Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 25 November 2011

Anh bạn đồng nghiệp rủ tôi cùng một số anh em đi Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang du lịch dịp hè. Thông tin thú vị! Thế là chúng tôi cùng nhau khăn gói lên đường.

Xuôi theo Quốc lộ 80 từ Cần Thơ đi Châu Đốc, sau đó rẽ vào đường N1 nối Tịnh Biên với Hà Tiên (Kiên Giang) chạy hơn 60km, chúng tôi đến Khu du lịch Mũi Nai (thị xã Hà Tiên) thuộc Công ty CP dịch vụ du lịch Mũi Nai.

Nấp mình trong vịnh Hà Tiên, có dãy bờ biển đẹp, sóng êm, bên trên là dãy núi Tà Pang, vị trí nên thơ nên chưa đầy 3 năm mà nay trở lại, Khu du lịch Mũi Nai đã thay đổi đến khó nhận diện được. Dọc từ bãi trước đến bãi sau, nhiều hàng quán cùng các nhà hàng, khách sạn của các đơn vị du lịch mọc lên trong đó nhiều quầy bán hàng lưu niệm thật phong phú.

Mũi Nai là điểm thu hút khách du lịch thập phương đến quanh năm đặc biệt là những ngày cuối tuần, trong đó có nhiều khách du lịch là người Campuchia do chỉ cách biên giới có vài cây số.

Một khu đất 17ha, nhưng nay có đến 11 đơn vị khai thác dịch vụ du lịch. Anh Nguyễn Văn Hạnh, Giám đốc Công ty CP dịch vụ du lịch Mũi Nai cho biết vừa đầu tư xây dựng một số công trình mới như: Đài vọng lâu; hệ thống xe trượt ống độc đáo từ chân núi lên đỉnh núi cao 128m, dài 1.250m, tổng giá trị đầu tư hơn 20 tỉ đồng nhằm cạnh tranh và thu hút khách du lịch.
Sắp tới, công ty mở thêm khu cắm trại cho 400 khách trở lên, khu trò chơi trượt nước dưới biển, khu tự phục vụ… nhằm thu hút đối tượng du lịch gia đình, du lịch sinh thái dã ngoại, cắm trại của thanh niên, sinh viên, học sinh,…

Anh Hạnh bộc bạch: “Định hướng phát triển kinh doanh của công ty là nhắm đến đối tượng khách du lịch bình dân. Tất nhiên, công ty vẫn không quên những khách “sộp” bằng việc xây dựng những bungalow cho khách hạng sang đến ở. Nhưng, đối tượng chính vẫn là khách du lịch bình dân”.

Từ trên đài vọng lâu, với ống kính viễn vọng, chúng tôi quan sát được 5 hướng bao gồm: Phía Bắc là quang cảnh núi Lạc Sơn, Casino, cửa khẩu Hà Tiên; phía Tây Bắc nhìn về thành phố Sihanouk Ville, đảo KoKa, thành phố Kép (tỉnh Campốt, Campuchia); phía Tây Nam là toàn cảnh bãi biển Mũi Nai, quần đảo Hải Tặc, Phú Quốc; phía Nam là quần đảo Bà Lụa, núi Đèn; phía Đông Nam là quang cảnh thị xã Hà Tiên, núi Tô Châu, cửa biển Hà Tiên.

Hơn 8 giờ sáng, ngồi ở bãi biển Mũi Nai ngắm cảnh biển, nhâm nhi những món ăn miền biển như: hào sữa chiên giòn, cua lột lăn bột, tôm sú biển luộc nước dừa,… chúng tôi đã thấy đoàn xe cùng dòng người là khách du lịch của Kiên Giang và nhiều tỉnh lân cận như: An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp và cả TPHCM đến vui chơi, tắm biển. Họ mang theo thức ăn, bia, rượu, nước uống và mang cả dàn ampli, micro, dàn hát karaoke.

Anh Nguyễn Văn Hạnh, Giám đốc Công ty du lịch Mũi Nai cho biết: “Chúng tôi sẵn sàng tạo điều kiện cho khách du lịch đến đây vui chơi, thậm chí kéo dây điện cho họ có nguồn điện để chơi cho dàn nhạc họ mang theo. Do chú trọng khai thác đối tượng là khách du lịch bình dân nên giá cả của chúng tôi rất “mềm”.

Một dĩa hào sữa mà các anh vừa ăn chỉ khoảng 90.000 đồng. Chúng tôi bán cả bánh nếp Thốt Nốt - là món ăn dân dã ở địa phương nhưng thơm ngon với giá 2.000 đồng/chiếc bánh nên khách du lịch đến Mũi Nai rất thích. Về tiền phòng nghỉ, giá phòng khoảng từ 250.000-300.000 đồng. Thời giá như thế ở khu du lịch là vừa phải, phù hợp cho mọi đối tượng. Nhờ đó mà các phòng nghỉ của công ty đạt công suất phòng rất cao. Doanh thu hàng năm đều tăng từ 30-40%”.

Ăn cơm trưa xong, chúng tôi lên biên giới để sang Campuchia qua cửa khẩu Xà Xía (Hà Tiên). Thủ tục qua lại giữa hai nước bây giờ hết sức thuận lợi.

Từ Kiên Giang, nhập cảnh sang Campuchia qua cửa khẩu Prek Chark, nếu có hộ chiếu chỉ phải đóng phí 3USD/người, nếu chỉ có chứng minh nhân dân thì đóng phí 5USD/người.
Có tuyến xe buýt Kép - Hà Tiên chạy liên tục. Chúng tôi ghé Hà Tiên Vegas tham quan Casino* và mua tour đi Kép. Trương Lê Kiều Loan, nữ nhân viên tiếp thị - kinh doanh của Công ty Du lịch và Giải trí Hà Tiên Vegas hoạt bát, lanh lẹ hướng dẫn chúng tôi sang thành phố Kép của tỉnh Campốt.

Sau một vòng đi chợ Samaraki, xem sinh hoạt, mua bán của người dân, đặc biệt là mua trái cây nổi tiếng là sầu riêng và măng cụt, chúng tôi ra biển Kép.

Đi vào ngày chủ nhật, lại gặp trời đẹp, biển êm nên người đến tắm biển rất đông. Những hàng quán mọc lên san sát còn sung túc hơn biển Mũi Nai. Xe ô tô đậu san sát dọc theo bãi biển.

Lái xe That Piseth cho biết: “Dưới thời Polpot, nơi đây bị phá tan tành. Chính phủ Việt Nam và chính quyền tỉnh Kiên Giang hỗ trợ tỉnh Campốt và thành phố Kép xây dựng lại nhiều công trình. Nhờ vậy mà 2 năm gần đây, biển Kép mới sung túc”. Tại đây, cua, ghẹ, tôm, cá,… rất tươi và rẻ. Có dịch vụ luộc cho khách ăn ngay. Do vậy, ngày càng có nhiều khách Việt Nam tham gia tour du lịch Kép  - Campốt - Phnôm Penh.

* Lưu ý: Bạn chỉ nên tham quan casino thôi chứ đừng bao giờ nhập sòng dù chỉ một lần thử. Ăn bạc chỉ là sự huyễn hoặc trong khi tán gia bại sản là điều chắc chắn (ĐGD).

Du lịch, GO! - Theo báo Hậu Giang, ảnh internet
Lũy tre thấp thoáng đàng xa
Mấy mươi bước nữa về qua cổng làng
Trong lòng bỗng thấy xốn xang
Quê hương hai tiếng nặng mang suốt đời...

Xưa, ở những làng quê châu thổ Bắc bộ, Làng khi ấy tương đối khép kín, chỉ để một hoặc hai lối ra vào và cổng làng được quy định là giới hạn giao lưu liên làng và mở ra khu thổ canh của làng đó. Vào buổi sáng, cổng làng mở, dân làng đi làm, đến tối lặn mặt trời, sau khi dân làng về thôn thì cổng làng được đóng lại, "nội bất xuất, ngoại bất nhập".

Lâu dần, cổng làng không chỉ là nơi phân địa giới giữa các làng với nhau, mà trở thành biểu tượng văn hoá của làng quê châu thổ Bắc bộ, cùng với cây đa, mái đình. Và cổng làng luôn có vị trí quan trọng trong đời sống thực và tinh thần người Việt.

Theo quan niệm truyền thống, bên cạnh cây đa, giếng nước, đình chùa, cổng làng vốn có ý nghĩa như một sự chào đón chân thành, hồ hởi của người địa phương dành cho khách. Với những người con xa quê lâu, sau một hành trình dài trở về, chiếc cổng làng luôn mang đến cảm giác yên bình, thân thương, tạo những giá trị hữu hình vô giá.

Cổng làng xưa – Biểu tượng văn hoá của làng quê Bắc bộ

Cổng làng là một trong những bộ phận cấu thành không thể thiếu của làng quê cổ truyền vùng Bắc Bộ. Cổng làng thường tập trung nhiều ở vùng đồng bằng Bắc bộ như ở tỉnh Hà Bắc, Hà Tây, Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình, chủ yếu là những vùng trồng lúa và có văn hoá làng xã. Có làng giàu, có làng khoa bảng, có làng nghề... tất cả những cái hay cái đẹp đều được các vị túc nho viết thành câu đối khắc trước cổng. Và đó là một phần của văn hóa làng.

Cổng làng hai bên có lũy tre, lại mở ra cánh đồng nhiều gió mát, dân làng thường đến ngồi chơi và nhiều khi cổng làng là nơi giao lưu tình cảm, trao đổi thông tin. Một chiếc cổng bằng gỗ cũ kỹ đã tróc sơn, một cánh hay một chiếc cổng xây bằng gạch rêu phong đã mọc đầy là hình ảnh quen thuộc của làng quê Bắc bộ Việt Nam - một biểu tượng thân thương và đặc trưng của mỗi làng quê truyền thống.

Cổng làng ra đời từ rất sớm, gắn liền với sự hình thành và phát triển của làng. Ðó là nơi đất lề, quê thói, làng đã đủ tuổi để cất dựng nên một chiếc cổng. Dù to dù nhỏ, dù xây bằng gạch hay ghép đá, chiếc cổng làng chính là dấu ấn minh chứng cho một nếp làng bề thế, chỉn chu. Cửa nhà trong làng có thể xộc xệch, sơ sài; con người có thể lam lũ, nhếch nhác nhưng cổng làng thì phải đàng hoàng, chững chạc. Ðơn giản chỉ bởi cổng làng là bộ mặt, là biểu tượng của làng quê, phần nào thể hiện được cốt cách của làng, tư chất của mỗi người dân trong làng.

Cổng làng được dùng như một qui ước không gian hơn là một giới hạn địa lý của làng. Tam quan cổng làng được dùng như một qui ước không gian hơn là một giới hạn địa lý của làng. Nó chẳng ngǎn che được gì về vật lý lẫn thị giác. Vậy mà làng không cổng chẳng khác gì nhà không cửa. Nó như một dấu hiệu đánh mốc trong và ngoài của không gian làng - đó là một phần của văn hóa làng. Cái kiểu đánh dấu này luôn tồn tại trong tâm thức người Việt. Một buổi giao lưu trong thiên nhiên, một đám hội hè, hễ có nhiều quần thể khác nhau thì thế nào cũng dựng cổng, định vị "xác định chủ quyền" dẫu thực tế chẳng có gì ngǎn cách. Cổng làng như một nghi thức trong cấu trúc môi trường làng. Có cổng thì ở sát rìa làng, có cổng thì ở tít đầu đường, chỗ giao với cái quan (đường cái) và làng.

Vẻ đẹp của cổng làng gắn với nền văn minh lúa nước, mang tính phác họa, gợi nên những ước vọng của cộng đồng từ đời này qua đời khác, nơi như có dáng đứng của cha, có vòng tay của mẹ, nơi tâm điểm để cho ta lượng đo sức mình khi đi xa và ngược lại nó cũng là nơi hút về những nỗi nhớ, những hoài niệm về quê hương. Cố giáo sư Từ Chi cho rằng, cổng làng có vị trí quan trọng trong đời sống thực và đời sống tinh thần người dân Việt Nam. Bởi lẽ, dù đô thị hóa đến đâu, nhiều nhà cao tầng hay biệt thự, làng vẫn không thể là phố.

Chưa cần bước sâu vào làng, chưa đặt chân tới sân đình, đứng trước cổng làng, người xa lạ cũng có thể cảm được phần nào cốt cách của làng, tư chất của mỗi người dân. Bởi vậy, cổng làng phải được đặt ở vị trí trang trọng nhất và dễ nhìn nhất, để người của làng dù có tha phương cầu thực nơi đất khách quê người, trở về trong một đêm không trăng, không sao chỉ khẽ chạm tay cũng biết mình đã về tới mái nhà thân yêu. Phía sau cánh cổng làng chính là sự kết nối cộng đồng gia tộc làng xã, là những nét chung về phong tục, tập quán, văn hoá riêng biệt không làng nào giống với làng nào.

Con đường đi qua cổng làng, để lại theo nǎm tháng những lớp bụi quê vô thường, vô thức, chứng kiến không biết bao nhiêu sự kiện lớn của làng. Những đám rước, đám hội, thương nhau cũng hò hẹn ở chốn cổng làng, rồi khi về làm dâu, bước qua cổng làng về nhà chồng, trở thành một thành viên trong cộng đồng dân cư... như đều được bắt đầu hay kết thúc ở đây. Có ai mỗi khi xa quê không ngoái nhìn lại, nhìn lần cuối tam quan làng mình. Những người con xa xứ, khi về lại quê nhà, bước qua cổng làng là biết mình đã về tới mái nhà thân yêu, về được lại mảnh đất chôn rau cắt rốn, chợt thấy lòng ấm lại. Có cả niềm hân hoan, nỗi bịn rịn ươn ướt trên mi, quệt vào vách cổng, sướt trên cột cổng. Và có ai mỗi khi xa quê không ngoái nhìn lại, nhìn lần cuối tam quan làng mình. Với vẻ trầm mặc ghi dấu ấn văn hóa một thời được xây dựng và phương trưởng của vùng miền theo thời gian.

Kiến trúc cổng làng châu thổ Bắc bộ

Kiến trúc cổng làng xưa không cầu kỳ, phô trương, mà chỉ nhằm khẳng định chỗ đứng của mình trong khoảng không gian làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ, vốn "nửa kín, nửa hở", trong đó giới hạn của nó chỉ mang tính chất tượng trưng.  Mỗi một cổng làng Việt Nam đều có những nét kiến trúc riêng làm tâm điểm trong cái bố cục hài hòa với không gian của con đường làng, lũy tre xanh, cây đa, giếng nước, ao làng và những cánh đồng lúa chín.

Cổng làng thường được đặt ở vị trí trang trọng nhất, dễ nhìn thấy nhất và thường thì chỉ có một cửa chính nhưng ở nhiều nơi, liền với cửa chính còn có hai cửa phụ thấp và nhỏ hơn, được xây dựng trang trí hài hoà với cổng chính, tạo thành một thể kiến trúc thống nhất tựa như những ngôi tam quan của chùa, hay như những bức cửa mã ở đình làng.  Ngày thường, người lạ kể cả dân làng chỉ được qua lại ở hai cửa ngách, khi làng có việc trọng đại như vua đến thăm, lễ rước quan trạng vinh qui, hội hè… cửa chính mới được mở ra. Hai bên cổng làng thường gắn đôi vế đối chữ nho, câu đối có thể do vua ban nhưng phần lớn là những câu đối do làng lập nên.

Cổng làng thường là một tam quan xây gạch, không to lắm cũng không lớn lắm. Cầu kỳ thì đắp ngói với một vài họa tiết dân gian. Ở những chốn quê nghèo, cổng làng mộc mạc. Hai bên trụ gạch thấp nhỏ, khiêm nhường đỡ một tấm xà cũng bằng gạch, thế là thành cổng làng. Không một nét vẽ trang điểm, không màu mè, thậm chí không một nét chữ tên làng, vậy mà chính những chiếc cổng vô danh như thế lại trở nên thân thiết gắn bó vô chừng.

Làng khá giả thì cổng lớn, rồng chầu, hổ phục, nóc mái và đầu đao có khi kết đôi chim phượng. Thời phong kiến, nhiều khi danh giá của làng quyết định tầm cỡ cổng làng. Ngày ấy, làng nào có nhiều người đỗ đạt, làm quan thường được vua ban cho quyền xây cổng lớn nhưng cũng không được vượt quá những qui định của luật lệ.

Cũng không ít làng dựng hai cổng, gồm cổng tiền và cổng hậu. Cổng tiền, thường hướng về phía Đông Nam, hướng của gió lành, hướng của mặt trời mọc, để đón những niềm vui sinh sôi trong lao động và hạnh phúc, còn cổng hậu, thường hướng ra phía Tây, hướng mặt trời lặn, để tiễn đưa những vướng bận buồn rầu.
Cổng làng trước đây còn có cánh cửa, do bà con địa phương chung tiền dựng bằng gỗ hoặc bằng tre và thường trổ về hướng Đông Nam, đón gió mát và mặt trời mọc. Cánh cửa ấy mở ra mỗi sớm, với hy vọng mang vào phúc lộc và niềm vui. Cổng có người thay nhau canh gác để bảo vệ bình an cho bà con, khi có biến động.

Cổng làng, đối với người xưa, có sự gắn bó sâu sắc, thể hiện tình cảm thiêng liêng với quê hương xứ sở. Xưa, Lương Văn Can, người sáng lập ra phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907), quê ở làng Nhị Khê, Thường Tín, mỗi khi về quê, qua cổng làng là cổng Quốc, có đề bốn chữ “Như kiến đại tân” (Như được đón khách quý), nếu đi xe tay, đến cổng Quốc, ông đều xuống xe, đi bộ về nhà. Mặc dù theo lệ làng phải đến gần đền thờ Nguyễn Trãi, gọi là đền ông Khai Quốc, có tấm bia hạ mã, người đi xe mới phải xuống xe đi bộ qua đền, rồi qua đền lại được lên xe đi tiếp.

Tình cảm sâu nặng với quê hương, trân trọng các bậc tiên liệt của người quê, mỗi khi qua cổng làng đáng quý, đáng trọng biết bao. Trải qua bao đời, những tình cảm ấy, gắn với cây đa, giếng nước, ao làng, gắn với những ngôi đình, ngôi chùa cổ, đã trở thành hồn quê, mang sức sống và bản lĩnh của làng, trở thành sức mạnh vật chất, chống lại kẻ thù, mỗi khi đất nước bị xâm lược. Nhờ vậy mà ở những thời kỳ dân tộc ta bị mất nước nhưng làng thì không bao giờ mất. Và lẽ sống của người làng được ghi tạc ở cổng làng, luôn sáng ngời những giá trị chân, thiện, mỹ. Đó chính là một diện mạo mang bản sắc độc đáo của văn hoá làng.

Trải qua thăng trầm của thời gian, ngày nay cổng làng - Biểu tượng văn hoá của làng quê châu thổ Bắc bộ đang dần đi vào quên lãng bởi tốc độ chóng mặt của sự đô thị hóa. Nhà tầng với nhiều kiểu cách xây dựng pha tạp đã mọc lên giữa những làng quê bao đời mộc mạc, bình dị, phá vỡ ít nhiều cái cảnh quan đã là đặc trưng của nông thôn Bắc bộ suốt mấy trăm năm.

Dẫu vậy, vẫn còn ở đâu đó tại các làng quê miền Bắc bộ vẻ đẹp của những kiến trúc cổ của những chiếc cổng làng đa dạng. Cổng làng Bắc bộ như một lời mời chào thành thật nhất để ta bước vào với đời sống làng quê. Trong một góc tâm thức nào đó của người dân, cổng làng vẫn tồn tại như một biểu tượng thân thương và đặc trưng của mỗi làng quê truyền thống.

Hiện nay, các làng quê Việt Nam và các làng xã ngoại ô thành phố đang nở rộ “phong trào” phục chế lại hay xây dựng mới các cổng làng theo kiểu truyền thống. Đó là một nét đáng mừng. Nhưng có lẽ, niềm vui sẽ trọn vẹn hơn nếu sau mỗi cổng làng ấy là cuộc sống người dân luôn no ấm, yên bình và đậm đà bản sắc “Mỹ tục khả phong” (Phong tục tốt đẹp) riêng.

Du lịch, GO! - Theo mạng Cinet, internet
Quảng Ngãi nổi tiếng là nơi có nhiều cảnh đẹp. Tương truyền từ thời thi sĩ Đạm Am Nguyễn Cư Trinh làm Tuần vũQuảng Ngãi (1750), ông đã vịnh “thập cảnh” Quảng Ngãi. Các Nho sĩ địa phương vịnh hai cảnh đẹp khác, hình thành nên 12 cảnh và gọi chung là “Cẩm Thành thập nhị cảnh”.

1. Thiên Ấn Niêm Hà

Nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, về phía bắc tỉnh lỵ Quảng Ngãi, núi Thiên Ấn chỉ cao hơn 100m, giống một cái triện (ấn), nhín phía nào cũng thấy núi có hình thang cân.
Núi chỉ cách đầu cầu Trà Khúc chừng 2km về hướng đông, nay thuộc thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh. Đỉnh núi bằng phẳng, có một khoảng cây cổ thụ bao bọc ngôi chùa cổ, tương truyền được xây dựng từ thời vua Lê và qua nhiều lần trùng tu, còn lại di tích cửa tam quan rêu phong cổ kính.

Trong khuôn viên vườn chùa có 7 “viên mộ” của các vị sư tổ trụ trì chùa, có giếng nước sâu gọi là giếng Phật, có quả chuông cổ gọi là Chuông thàn. Ngoài khuôn viên nhà chùa, trên khoảng đất thoáng đãng phía tây có phần mộ của chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, người đã gắng bó máu thịt với đất Quảng Ngãi thuở bình sinh. Đường lên Thiên Ấn hình xoắn ốc, quang sườn núi có tranh mọc đầy.

“Bao giờ núi Ấn hết tranh, sông Trà hết nước anh đành xa em”

Đứng bên hữu ngạn sông Trà nhìn qua, ta có cảm giác như ngọn núi nằm ngay trên mặt sông Trà, nên được người xưa gọi là Thiên Ấn niêm hà (ấn trời đóng trên sông) với niềm tin thiêng liêng vào một vùng đất địa linh sinh nhân kiệt. Xưa Thiên Ấn được xem là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi, chùa Thiên Ấn được xem là một trong những ngôi chùa nổi tiếng cả miền Trung. Năm 1717, chúa Nguyễn Phúc Chu đã ban sắc phong “Thiên Ấn tự”. Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), núi được liệt hạng danh sơn và ghi vào tự điển, có sắc phong “Thiên Ấn tự”.

Từ trên đỉnh núi Thiên Ấn, tầm mắt có thể thu về một khoảng không gian bao la: xung quanh là những làng mạc, ruộng đồng ngát xanh, dòng Trà Khúc lượn lờ duyên dáng, tây là dãy Trường Sơn hùng vĩ, đông là mặt biển bao la… Đỉnh núi gợi cho khách tham quan cái cảm giác thoát tục, thanh khiết, như thủ khoa Phạm Trinh xưa kia đã viết:

“Sông bên góc núi đua dòng biếc
Biển sát chân trời bủa sóng xanh
Giếng Phật mạch sâu mùi nước ngọt
Chuông thần đêm vắng giọng đưa thanh”

Đầu năm 1990, Bộ Văn hóa đã xếp hạng núi Thiên Ấn và mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng là Di tích quốc gia.

2. Long đầu Hý Thuỷ

Không xa Thiên Ấn, sát Quốc lộ 1A và ngay cạnh phía bắc cầu Trà Khúc là núi Long Đầu, từ phía đông bắc một dãy đồi thấp mấp mô chạy dài đến đây thì nhô cao lên và đâm vào vực sông Trà Khúc. Vào mùa lũ, nước cuộn xoáy nơi vực sông, người xưa hình dung như là đầu rồng đang giỡn nước, nên gọi là Long Đầu hý thủy. Đồng thời Long Đầu hý thủy còn gắn với câu chuyện vua Nam Chiếu chống Cao Biền. Ngày nay “đầu rồng” đã bị san ủi để làm bến xe, nhà cửa, chợ quán, nguyên gốc hầu như đã biến dạng.

Để tạo nên vẻ đẹp của Thiên Ấn niêm hà và Long Đầu hý thủy phải kể đến con sông Trà Khúc. Từ xưa Cao Bá Quát đã ghé qua đây từng ca ngợi sông Trà với những vần thơ tuyệt diệu:

... Bãi uốn sông như sầu quặn khúc
Tối chìm, gió tựa – rượu hơi say…

Trước đây, Thiên Ấn, Long Đầu, sông Trà Khúc với những guồng xe nước, những chiếc thuyền buồm, thuyền chài trên sông, làng mạc ven bờ… đã tạo thành một bức tranh sơn thủy hữu tình nằm ngay ở mé bắc tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Ngày nay bờ xe nước không còn, Long Đầu đã trở thành phế tích. Thắng Cảnh này đã phần nào mất đi vẻ đẹp vốn có.

Từ Thiên Ấn – Long Đầu xuôi theo quốc lộ 24B về hướng đông chừng 15km, ta sẽ bắt gặp một loại cảnh đẹp mà trước hết là bãi biển Mỹ Khê.

3. Thiên Bút Phê Vân

Núi Thiên Bút nằm ở địa phận xã Nghĩa Chánh, thành phố Quảng Ngãi. Núi Thiên Bút cao 60m, hình chóp nón, trên núi nhiều cây, trông xa tựa như ngọn bút lông chỉ lên trời. Về phía đông núi có hòn Nghiên tựa như nghiên mực. Vào buổi chiều tà có dải mây thấp thoáng in bóng đàn nhạn bay qua đỉnh núi, người xưa thường bảo ấy là lúc “Thiên Bút phê vân” (bút trời viết lên mây). Núi tượng trưng cho văn khí của Quảng Ngãi. Hiện nay trên đỉnh núi còn dấu tích một đền tháp Champa cổ.

4. Cổ Luỹ Cô Thôn

Núi Phú Thọ và Cổ Lũy cô thôn nằm ở địa phận xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa. Núi Phú Thọ còn có tên là núi Đá Đen, hay Thạch Sơn, cao 60m, rộng chừng 8 hécta, trên núi là quần thể phế tích cung điện nhà cửa đền tháp và thành quách Champa. Núi có chùa Hang với huyền tích con cọp thần. Đứng trên đỉnh núi có thể phóng tầm mắt  bao quát trông về dòng sông Trà hùng vĩ, cửa Đại nên thơ, rừng dừa xanh Cổ Luỹ, đảo Lý Sơn thấp thoáng trong khói sóng biển xanh, phía tây là đồng bằng Quảng Ngãi xanh tít tắp. Tương truyền Nguyễn Cư Trinh khi trông về xóm Mồ Côi của những người dân chài đơn độc bên cửa Đại đã đặt tên là Cổ Luỹ cô thôn .

5. Liên Trì Dục Nguyệt

Thuộc thôn Liên Chiểu, xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ. Nơi đây có hồ sen rộng, soi bóng núi Xương Rồng ở phía Tây, vào những đêm trăng thanh nên thơ huyền ảo, đi thuyền trên hồ thấy bóng trăng thấp thoáng dưới sen, chìm trong đáy nước nên cổ nhân đặt tên Liên Trì dục nguyệt. Phía bắc hồ  là ngôi đền Quan Thánh, có tạc 4 pho tượng cao hơn 3m diễn tả sự tích vào đêm trăng hồn Quan Công bay xuống núi đàm đạo cùng Phổ Tĩnh thiền sư  và hoá duyên theo Phật).

6. Hà Nhai Vãn Độ

Bến đò Hà Nhai thuộc xã Tịnh Hà huyện Sơn Tịnh. Ngày trước nơi đây trên bến dưới thuyền tấp nập, những người dân vùng bờ bắc sông Trà Khúc thường qua lại để lao động sản xuất ở vùng bờ nam sông. Vào những buổi chiều tà khi ánh dương đỏ trên rặng Thạch Bích phía tây, soi bóng những con thuyền lờ lững qua sông, làm cho lòng người buồn man mác

7. Thạch Bích Tà Dương

Một cảnh đẹp hùng vĩ nên thơ nằm về phía đông nam huyện Sơn Hà giáp huyện Minh Long. Thạch Bích (Đá Vách) là một ngọn núi cao nổi tiếng của Quảng Ngãi, thế núi quanh co đứng  cao chót vót, cây cối rậm rạp, vách đá dựng ngược, sắc đá màu ngọc lúc ráng chiều nên được gọi là Thạch Bích tà dương.

Cảnh vật nơi đây thay đổi từng thời khắc trong ngày, đặc biệt là mỗi buổi chiều tà, khi vạn vật bắt đầu chìm vào bóng đêm thì trên đỉnh Thạch Bích vẫn còn sáng bừng ánh hoàng hôn, tạo nên một vẻ đẹp vừa oai hùng vừa thơ mộng.

8. An Hải Sa Bàn

Vùng An Hải phía bắc cửa Sa Kỳ có núi thấp chạy sát mép biển bỗng dưng uốn cong tạo eo lõm vào đất liền. Vùng đất eo lõm này toàn là cát trắng phau.

Mùa gió nồm đông thổi vào tạo nên lốc xoáy vun cát lên, đứng trên núi nhìn xuống trông giống hình dáng cái mâm cát khổng lồ rất đẹp.

9. Thạch Cơ Điếu Tẩu

Là một trong 12 cảnh đẹp ở Quảng Ngãi – Thạch cơ điếu tẩu gồm hai quả núi đá tọa lạc trên cửa biển Sa Kỳ cách tỉnh lỵ 16 km về hướng đông bắc. Đó là một dãy đá thiên nhiên thẳng hàng, ở giữa có một tảng đá in hình hai dấu chân người, bên cạnh là một hang đá lộ thiên, mỗi khi sóng biển dội vào hang đá nước phun lên rất đẹp trông như lò nấu rượu. Trên một tảng đá có in hình một vết lõm trông giống như dấu bàn chân nên gọi là bàn chân khổng lồ. Truyền thuyết đó là dấu chân của ông khổng lồ gánh đất bị soạc chân, hai trạc đất rơi xuống tạo thành núi Hó (Thiên Ấn) và núi Bút (Thiên Bút). Ngoài mép nước một hòn đá đen nổi lên ở cửa biển trông như người ngồi câu giữa dòng nước gọi là Thạch cơ điếu tẩu (Ông câu trên ghềnh đá).

10. La Hà Thạch Trận

Thuộc thị trấn Tư Nghĩa, huyện Tư Nghĩa. Tương truyền rằng, lúc trong vùng còn hoang vắng, gió thổi qua đây gầm rất mạnh, tưởng như có cả một đoàn quân mai phục, nên gọi là La Hà thạch trận. Đây là 3 cụm núi đá liên hoàn: núi La Hà, núi đá Chẻ, núi Hùm. Do việc khai thác đá chưa được kiểm soát, nên ngày nay thắng cảnh này đã gần như hoàn toàn phế tích.

11. Vân Phong Túc Vũ

Vân Phong là tên một dãy núi cao thuộc hướng nam huyện Trà Bồng, và Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi (chính là dãy Cà Đăm). Đỉnh núi cao vút lên giữa lừng trời được bao bọc xung quanh bởi các dãy núi trùng điệp, nhìn từ xa trông ngọn núi rất tươi sáng. Nhìn về phía chót núi lúc nào cũng thấy mây bay dờn dợn bao phủ trông khí sắc giống như trời vào buổi tinh mơ hay sau khi mưa tạnh nên được gọi là Vân Phong túc vũ.

12. Vu Sơn Lộc Trường

Vu sơn là ngọn núi cao nằm về phía tây của huyện Bình Sơn. Nhìn từ xa ngọn núi như điểm phát mạch cho các dãy núi thấp hơn chạy về đồng bằng. Trên vùng triền núi phía tây có rừng cây rậm rạp tươi tốt là nơi hươu nai về tụ tập rất đông nên gọi là Vu Sơn lộc trường (Bãi nai ở núi Vu Sơn)..

Du lịch, GO! - Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi, ảnh sưu tầm

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống