Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Monday, 28 November 2011

Bàu Đưng nằm dưới chân núi Sơn Triều, giữa hai thôn Quy Hội và Đại Hội thuộc xã Phước An, huyện Tuy Phước-Bình Định. Bàu có từ lâu đời, rộng trên 120 ha, đa dạng nguồn lợi thủy sinh. Mặt bàu bao la, gần gũi, hiền từ như lòng mẹ đã nuôi sống bao thế hệ dân lành quanh hồ.

Phong phú nguồn lợi

Theo sõng ông Bùi Ngọc Liên, 80 tuổi ở thôn Quy Hội, xã Phước An, huyện Tuy Phước, tôi thật sự bị cuốn hút bởi không gian và sản vật bàu Đưng. Tầng trên mặt nước, lác ba cạnh mọc thành vùng rộng, đứng thẳng óng. Là đà mặt nước là bông súng trắng nhị vàng xen lẫn những khóm năng suôn mượt. Chuồn chuồn lác đủ màu, lên xuống bắt nước. Ong, bướm lượn lờ trên những đám rau dậy nở hoa trắng muốt. Tầng dưới mặt nước là rong đuôi chồn kết thành tấm dày, rướn thân vươn lên như những đụn san hô biển.

< Xúc cua bàu.

Đang mùa cá sặc làm tổ, mặt bàu buổi sớm luôn xao động. Ông Liên cho biết: “Lác và năng bàu Đưng là nguồn rác tủ hành, sắn nước, rau màu, dưa, kiệu rất tốt. Người dân Quy Hội nhờ nguồn lợi này mà bao đời trồng la ghim không tốn rơm, bạt tủ. Rau dậy và rong là nguồn thức ăn dặm cho heo, vịt. Dân quanh bàu tận dụng nguồn này thay cám để chăn nuôi. Lúa cỏ, lác non ở đây là nguồn thức ăn dồi dào để người dân phát triển đàn trâu, bò. Bèo lục bình là nguồn phân xanh hữu ích cho việc cải tạo đất gò. Cọng bông súng luộc chấm nước mắm ngon hay làm gỏi đậu phụng là món ăn ngon miệng sau những buổi làm đồng mệt nhọc của người dân quanh bàu!”.

Bồng bềnh trên những khoảng trống mặt bàu, thấy nhiều vùng nước nổi tăm, điểm sóng, tôi đăm chiêu. Ông Liên giải thích: “Đó là cá đớp móng. Bàu này nhiều cá lắm! Đủ các loài cá nước ngọt nhưng nhiều nhất vẫn là cá sặc và cá sóc lát (có nơi gọi cá thác lát). Quý nhất vẫn là chình bông và rùa nước nhưng đã hiếm. Cá, tôm, cua, ốc, lươn, chình bàu này rất ngọt, thơm khi nấu, không giống bất kỳ mùi vị thủy sản vùng nào khác. Món ngon mang hương vị riêng của bàu là món rồng rồng nấu canh lá dang với bông súng!”.

< Giăng, xúc trên bàu Đưng.

Sõng xuyên qua một vùng lác thưa xào xạc. Nghe tiếng động, mấy chú chim to như gà choai, đen mượt, từ mặt nước bay lên phành phạch. Đâu đó trên bàu the thé tiếng chim đàn. Ông Liên nhanh miệng: “Đó là chim trích. Còn tiếng kêu đằng kia là chim le le. Chúng sống thành bầy năm, sáu mươi con. Bàu này vốn nhiều chim và động vật nước. Trước đây có cả mười mấy loài như: trích, le le, cò lép, cò trắng, cò lọ nồi, cò xám, cúm núm, bói cá, se sẻ tàu, chim dán. Nhiều loài mất đi rất đáng tiếc như chim dồng dộc, gà nước, trăn nước và rái cá!”.

Rong ruổi qua thủy phận Ghềnh Đá và eo đình Đại Hội, tôi gặp nhiều đàn vịt nuôi thả rông mặt bàu, con nào cũng căng diều, sà sệch. Ông Liên dừng sào, chỉ tay về những doi đất đầu các ngọn suối, xanh um màu cây lá, bảo: “Nhờ nước từ bàu này mà nơi ấy đã thành những vùng trồng rau màu bốn mùa tươi tốt!”.

Bắt theo con nước

Long rong nửa ngày trên mặt bàu, tôi bắt gặp nhiều người làm nghề câu lưới. Lân la trò chuyện với anh Trần Văn Rải ở thôn Quy Hội lúc ghìm sõng nghỉ tay. Anh cho biết: “Trước đây, có hơn nửa số dân hai thôn Quy Hội và Đại Hội làm nghề câu lưới, nay 1/3 trong số họ lưu nghề, đi làm xưởng, chỉ còn lại người già và những người trụ cột gia đình. Tuy vậy hiện giờ còn khoảng vài trăm người giăng bắt thường xuyên”.

“Bàu mênh mông thế này, làm sao để bắt được cá?”, tôi hỏi. Anh Rải vui vẻ: “Có nhiều cách bắt lắm! Tùy theo mùa nước mà có cách bắt khác nhau. Riêng câu, lưới, trúm thì mùa nào cũng bắt được. Từ tháng tư đến tháng sáu, bàu hơi cạn, người ta tát đìa, tát vũng, xúc cào, xúc lát.

Tháng bảy, tháng tám, mưa giông đầu mùa, lại đơm cá rô, cá luối, cá lóc, sóc lát lên đẻ. Tháng chín đến tháng mười một, người ta thả chà, đơm cá sặc ổ, thọc tăm, xúc rồng rồng. Tháng chạp đến tháng ba, con nước thường, lại thêm cách bắt bằng lờ bậu, lờ bóng, vớt ốc, xúc cua!”.

Nghe nhiều cách bắt mới lạ, tôi tò mò, muốn biết. Anh Rải lần lượt giải thích: “Chà là bó cây dẻ ốc, chặt từ núi, gánh về thả xuống bàu lúc lũ dâng. Tôm, cua, cá, lươn, chình chui vào trú lũ, ăn nhớt từ chà. Sau khi lũ rút, người thả chà lội bàu, lùa chà vào rổ to vành, vạch, rẽ bó chà, bắt được nhiều loại, nhất là tôm, cua. Cách bắt này phổ biến trong người dân thôn Quy Hội.

Thọc tăm là hình thức đuổi cá lớn bằng đầu sào thọc xuống nước, theo dõi tăm cá chạy, lướt sõng theo, rồi dùng nơm lớn chụp xuống điểm cá dừng có màu nước vợn đục. Cách bắt này đòi hỏi kinh nghiệm và tỏ mắt. Hai thợ tăm nổi tiếng ở bàu này, bắt được nhiều cá chép 4-5 kg, cá lóc 3-4 kg là Năm Rõ và Bốn Tuấn!”.

“Còn đơm cá sặc ổ và xúc rồng rồng là sao?”, tôi hỏi. Anh Rải tiếp tục cho biết: “Cuối tháng mười, lũ rút, cá sặc làm tổ dày chân lác. Người dân chống sõng, chở vài chục lờ và vài mươi cây cờ giấy ra bàu. Họ dồn ba, bốn tổ cá thành một, trọn vẹn trong lờ, cắm cờ làm dấu. Cá sặc chui nhanh vào lờ tiếp tục sú bọt cho tổ. Có lờ vào được cả năm, sáu mươi con. Mùa cá sặc làm tổ, bàu vui như hội. Tiếng gọi bạn vọng xa, lời hỏi, chào, tiếng nói cười rộn rã giữa rừng cờ đơm đủ màu trên mặt nước, thật thích!


< Bắt lươn bằng trúm.

Còn rồng rồng là cá lóc con, sống thành bầy từ năm, sáu trăm đến vài ngàn con. Chúng theo mẹ đi ăn ở những vùng nước rộng, nổi tăm trắng xóa. Chúng lặn, nổi theo chu kỳ nhất định. Người xúc rồng rồng đội rổ nan đan dày to vành, lội nhẹ nhàng về điểm cá ăn. Chờ đến lúc cá vừa nhô lên, ửng đỏ mặt nước, người xúc đạp chân lao tới, ụp rổ, xoay tròn, vừa xoay, vừa giậm, vừa kéo.

Rồng rồng bị dồn một hướng, co cụm vào rổ. Nhiều con thoát được tiếp tục lớn lên thành cá lóc. Kiểu bắt này cũng đòi hỏi quen tay, tinh mắt. Trước đây có ông Hai Sơn, bác Bảy Hảo ở thôn Quy Hội, nay có thêm Bốn Bình, Bốn Tân cùng thôn là những người giỏi bắt kiểu này!”.

Vui, buồn mặt bàu

Thấy anh Rải còn trẻ, khỏe, tôi hỏi anh: “Sao không đi làm xưởng như những người khác?”. Anh tâm sự: “Làm xưởng, thu nhập ổn định nhưng đi cả ngày, nhà cửa không ai lo. Làm câu, lưới, tuy mùa được, mùa ít nhưng chịu khó làm thêm trúm, lờ thì thu nhập cũng bằng làm xưởng. Làm bàu, tôi tranh thủ đưa đón, trông coi con cái học hành. Tôi mến bàu, quen nước rồi, khó dứt!”. “Bằng làm xưởng là bao nhiêu?”, tôi tò mò.

Anh Rải tiết lộ: “Hầu hết những người làm bàu đều kết hợp nhiều kiểu giăng, buông, xúc, vớt. Ngày đêm họ đi bốn chuyến, ra - vào tám lần: gần sáng, giữa trưa, chiều tối và nửa đêm. Bắt được cá, họ nhốt lại bàu, sáng sớm đưa về bán. Căn cứ số lượng người làm và kết quả họ thu được thì ước tính bàu này, mỗi ngày đêm cho trên 200 kg thủy sản các loại.

Tùy theo con nước và kinh nghiệm nghề nghiệp của từng người mà sản lượng giăng bắt khác nhau. Mùa lũ, người làm bàu bình thường, một ngày đêm thu nhập từ 300 ngàn đến 400 ngàn đồng. Ngày thường, từ 120 ngàn đến 150 ngàn đồng!”.
Nhìn nhiều cụ già buông câu, vài phụ nữ vớt ốc dập dềnh trên nước, tôi không khỏi ngỡ ngàng và động lòng. Anh Rải cho hay:

“Họ là những người cả đời gắn bó với bàu. Cha, ông họ truyền nghề dệt lưới, buông câu lúc họ còn nhỏ xíu. Quanh đây, nhiều nhà có ba, bốn thế hệ làm bàu như gia đình anh Trần Kính, Nguyễn Công Rang, Hai Thì ở thôn Đại Hội, ông Bảy Hảo, anh Hai Luôn ở thôn Quy Hội. Họ bám bàu là vì thói quen, kế mưu sinh và là cách giữ, truyền nghề cho con cháu. Nhiều người trong số họ nuôi dạy con cái thành đạt như anh Kính, anh Rang!”.

< Thơm ngon cá đồng.

“Số lượng người làm bàu nhiều, có khi nào rủi ro hay bắt lén, bắt nhầm của nhau không?”, tôi phân vân. Anh Rải cười: “Tất cả những người ra bàu đều giỏi bơi. Có người bơi từ bờ bàu thôn này sang thôn kia. Người làm trên bàu này chưa có trường hợp chết đuối. Mặc dù không phân chia ranh giới nhưng ai nấy đều có vùng nước riêng để làm, không lấn chiếm, không tranh giành. Ngược lại, họ biết bảo vệ phương tiện, tài sản lẫn nhau!”.

Người làm bàu vui vì luôn đảm bảo giá trị ngày công, giữ được nghề của cha ông; vừa làm bàu vừa lo được chuyện làng, chuyện nhà; nuôi được heo, vịt, con trâu, con bò nhưng nỗi buồn, lo cũng không nhỏ. Anh Rải bùi ngùi tâm sự: “Bàu này, nếu không có nạn rà xung điện thì quý biết mấy. Mặc dù chính quyền xã, thôn áp dụng nhiều biện pháp ngăn chặn nhưng một bộ phận người dân hám lợi trước mắt, quên chuyện lâu dài đã lén lút hoạt động. Bàu rộng, lác dày, lực lượng chức năng lại mỏng, rất khó khăn trong việc phát hiện, xử lý. Nếu ai cũng ý thức được rằng: ăn hôm nay phải để ngày mai thì mặt nước bàu Đưng sẽ luôn nhộn tăm, sóng cá đi về!”.

Du lịch, GO! 0 Theo báo Bình Định, internet
Hang đá Đăk Tur là một di tích lịch sử tại Đắk Lắk, được Bộ văn hóa -thông tin xếp hạng vào năm 1991.

Khu di tích nằm ở địa bàn xã Cư Pui, cách trung tâm xã khoảng 6km, cạnh dòng thác Đăk Tur.
Trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, Hang đá Dak Tuar là nơi đóng quân của Tỉnh ủy Đắk Lắk và các đơn vị bộ đội chủ lực của tỉnh.

Địa hình khu vực xung quanh hang rất hiểm trở, hang rất rộng gồm nhiều tầng, nhiều lớp có thể đủ chỗ ở cho cả sư đoàn quân chủ lực. Mỹ, Ngụy đã  nhiều lần dùng máy bay ném bom, tổ chức nhiều cuộc càn quét hòng tiêu diệt khu căn cứ đầu não này nhưng đều thất bại thảm hại.

Tháng 5/1965, tại hang đá này, Tỉnh ủy đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc H9 vùng dậy phá ách kìm kẹp của địch, giải phóng một vùng đất rộng lớn về phía đông của tỉnh, vùng đất này nay thuộc huyện Krông Bông. Từ vùng căn cứ cách mạng này, Tỉnh ủy tiếp tục lãnh đạo quân và dân trong tỉnh kháng chiến, giải phóng Buôn Ma Thuột ngày 10-3-1975, mở màn cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975, toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Hiện nay đường vào di tích lịch sử này đã được đầu tư nhiều để tạo điều kiện cho du khách đến tham quan cũng như các hoạt động về nguồn của tuổi trẻ và quân, dân Đắk Lắk.
Tuy nhiên...

Hang Dak Tuar - di tích lịch sử giả tạo ở Đăk Lăk

Những nhân vật lịch sử được nhắc đến trong hồ sơ xét duyệt đang yêu cầu Tỉnh ủy, UBND Đăk Lăk kiểm tra lại tính chính xác của các tài liệu về di tích lịch sử Dak Tuar. Họ khẳng định hang đá này chưa bao giờ là căn cứ kháng chiến như bản lý lịch di tích được Bộ VH-TT công nhận năm 1991.

Theo bản lý lịch di tích lịch sử cách mạng hang đá buôn Dak Tuar năm 1990 của Bảo tàng tỉnh thì năm 1961, trong một trận càn quét của quân Mỹ và lính chế độ Sài Gòn cũ, toàn bộ dân buôn Tuar (nay thuộc xã Cư Pui, huyện Krông Bông) chạy tránh nạn trên núi Chư Yang Sin. Tại đây, 2 người làng phát hiện một hang đá vừa rộng, vừa dài, gần nguồn nước, có nhiều ngóc ngách thuận tiện cho việc trú quân, ăn ở lâu dài. Sau đó, tỉnh ủy Đăk Lăk đã chọn hang này làm căn cứ. Một số cán bộ lúc đó như ông Huỳnh Văn Cần, Mười Nguyên, Lê Chí Quyết, A Ma Thưng, Nam Vinh, Yblốc Êban, Lê Hữu Kiểng… đã ở đây chỉ huy cuộc kháng chiến.

Bản lý lịch có đoạn: “Gộp Chăng (tức hang đá Dak Tuar) không chỉ là đường dây chuyển liên lạc thông tin tiếp tế từ miền Bắc hậu phương lớn vào miền Trung và các tỉnh miền Nam… mà còn là trung tâm chỉ đạo cách mạng trong toàn tỉnh. Hang đá Dak Tuar mãi mãi đi vào lịch sử…”.

Căn cứ vào hồ sơ này, kèm với ý kiến của Sở VH-TT và tờ trình của UBND tỉnh Đăk Lăk, ngày 3/8/1991 Bộ VH-TT ký quyết định công nhận hang Dak Tuar là di tích lịch sử.

Thế nhưng trong danh mục 8 tài liệu tham khảo của Bảo tàng Đăk Lăk nêu ra, kể cả tài liệu tin cậy nhất là các quyển Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đăk Lăk, Vấn đề xây dựng căn cứ miền núi từ năm 1954-1970, Chỉ thị về nhiệm vụ xây dựng căn cứ cách mạng Tây Nguyên... đều không hề nhắc đến hang đá Dak Tuar.

Những nhân vật lịch sử được nhắc đến trong hồ sơ xét duyệt di tích lịch sử như ông Huỳnh Văn Cần (nguyên bí thư Tỉnh ủy Đăk Lăk), Hoàng Lê (nguyên chánh văn phòng Tỉnh ủy), Lê Hữu Kiểng (nguyên tỉnh đội trưởng) đều khẳng định chưa hề một ngày ở trong hang Dak Tuar. Có người còn nói không biết hang đá đó ở đâu. Ông Hoàng Lê nói: "Trong kháng chiến chống Mỹ, cơ quan chỉ huy có đóng tại buôn Tuar, chứ không ở trong hang đá. Nếu công nhận di tích lịch sử thì phải công nhận buôn Tuar chứ không phải hang đá nào đó".

Ông Huỳnh Văn Cần, nay là cán bộ hưu trí, cho rằng: "Để công nhận một địa danh là di tích lịch sử, trước hết phải khảo sát, tập hợp tài liệu, gồm văn bản, hiện vật, lời kể của những nhân chứng sống... Tất cả được lập thành hồ sơ và được đưa ra hội thảo để xem xét độ chính xác của tài liệu, giá trị tầm vóc của di tích, sau đó mới có thể kết luận và đề nghị công nhận. Thế nhưng bảo tàng Đăk Lăk đã không hề đưa ra được bất cứ hiện vật, tài liệu, văn bản, nhân chứng nào chứng minh cho bản lý lịch hang đá Dak Tuar". Ông Cẩn khẳng định những chi tiết trong lý lịch Dak Tuar như: “Từ một hang đá hoang vu nơi chốn rừng thiêng nước độc đã trở thành ngôi nhà thiên nhiên kín đáo vững chắc, tỉnh ủy cùng các cơ quan ban ngành đã đóng chốt cùng với toàn dân Dak Tuar mà hầu hết là người dân tộc M’nông để tổ chức cuộc kháng chiến...” là không có thực.

Các vị lão thành cho biết đã nhiều lần đề nghị Tỉnh ủy Đăk Lăk xác minh vấn đề này, và UBND tỉnh cũng đã yêu cầu Sở VH-TT tỉnh giải trình. Nhưng đã hai tháng qua, chuyện thật giả của “di tích lịch sử cách mạng Dak Tuar” vẫn chưa được các cơ quan chức năng tỉnh làm rõ.

Du lịch, GO!- Theo VnExpress, internet

ĐGD: Thật giả vẫn chưa ngã ngũ nhưng về phương diện cảnh vật thiên nhiên thì hang đá Đắk Tur vẫn là một chốn hoang sơ, đẹp...
Bằng “con ngựa sắt”, từ TP Đà Nẵng, độc giả Hoàng Nguyên và bạn bè quyết định vượt đường rừng gần 200km để khám phá cuộc sống sinh hoạt của đồng bào người Ve ở xã biên giới Đắc P’ree.

< Buổi sáng, Chà Vàl trong sáng lạ thường, tạo cảm hứng để chúng tôi lên với buôn làng Đắc P’ree.

16h chiều, vừa đặt chân đến xã Chà Vàl – trung tâm của các xã vùng cao Nam Giang (tỉnh Quảng Nam) cũng là lúc cơn mưa rừng đổ xuống khiến chúng tôi phải tạm dừng chân qua đêm. Sáng hôm sau, bầu trời Chà Vàl trong sáng lạ thường. Sau cuộc vui ly cà phê ở phố núi, chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình khám phá Đắc P’ree , bỏ lại sau lưng những ánh mắt nhìn thẳng, đầy ngạc nhiên của người dân bản xứ.

< Những cung đường đất ngoằn nghoèo thú vị.

< Dưới những sườn đồi, bản làng người Ve ở thôn 58 hiện rõ nét hoang sơ, kỳ vĩ.

Hơn 7h sáng, nhóm chúng tôi đã lục đục chuẩn bị hành lý để thực hiện một chuyến “phượt” dài lên xã biên giới Đắc P’ree. Sau cơn mưa hôm trước, đường đất lên Đắc P’ree trở nên khá thuận lợi, đất khô mịn ngoằn ngoèo, trượt dài theo từng con dốc thẳng đứng đến thót tim. Một cảm giác mạnh khiến nhóm “du lịch bụi” của chúng tôi thích thú.
< Buổi sáng, những chuyến xe chở thịt cá “di động” đến tận buôn làng.
< Cô chủ người Ve bên một góc quán nước hiếm hoi tại Đắc P’ree.

Hơn 10h, Đắc P’ree hiện hữu trước mặt chúng tôi là một khung cảnh hoang sơ, bao trùm cả một không gian núi rừng bạt ngàn. Đứng trên vạt đồi ngắm xuống làng bản của đồng bào người Ve nằm phái dưới thung lũng đẹp, giữa một bên dòng suối Ring hiền hòa. Từng cơn gió Lào khô khốc thổi mạnh, những rừng cây rậm rạp tỏa bóng xanh ngát giữa lưng chừng đèo tạo cảm giác miên man đến kỳ diệu.

< Từ quán nước, nhìn sang bên chiếc cầu treo, hai mẹ con người Ve trở về trong vội vã.
< Sau buổi lên nương, thanh niên Đắc P’ree lại vui chơi thể thao trước sân của làng.
< Đồng bào người Ve thường có một gian bếp treo đầy thịt rừng khô làm lương thực.


< Cùng du khách chung vui rượu Tà-vạt và món Láp truyền thống.
< Trẻ em tung tăng trên con đường quốc phòng vừa mới mở.

Tạt vào một quán nước nhỏ ngay cạnh chiếc cầu treo thôn 58 (xã Đắc P’ree) để giải khát, cô chủ quán cũng là người dân tộc Ve hồ hởi khoe: “Ở đây chỉ có một quán nước này thôi. Người dân mỗi khi từ rẫy về cũng đều ghé vào uống nước”. Từ quán nước, nhìn qua bên kia sông theo dây cáp của chiếc cầu treo, hai mẹ con người Ve vừa mới từ nương trở về nhà y hệt như đang đi trên không trung, rất vội vã.

< Khi ánh nắng bắt đầu lên, đồng bào Ve lại tranh thủ phơi thóc.
< Những trẻ em người Ve tắm nước bên con dốc đầu làng.
< Và tranh thủ tung chài bắt cá, cải thiện đời sống.

Chiều, ánh nắng vàng vọt phủ khắp núi đồi. Hàng chục thanh niên người Ve cùng nhau ra sân trước làng chơi bóng chuyền. Những nét mặt căng thẳng trong mỗi pha bóng, hay những tiếng cười giòn tang sau mỗi trận đánh thắng đã làm vang khắp núi rừng, cùng tiếng hò reo cổ vũ của các “cổ động viên” trong buôn. Một không khí vui chơi sôi nổi, hào hứng giữa núi rừng hoang sơ tạo nhiều ấn tượng đối với nhiều du khách lần đầu tiên đến thăm.

< Phút dừng chân bên vệ đường của các thiếu nữ sơn cước.
< Khi chưa có điện lưới quốc gia được kéo về, đồng bào người ve ở xã Đắc P’ree đã biết sử dùng máy tua-bin để phục vụ cuộc sống.

Tối đến, theo yêu cầu, chúng tôi được già làng Zơrâm Liếu đãi một chầu rượu Tà-vạt (một loại rượu được lấy từ thân cây) cùng món Láp gà, một món ẩm thực truyền thống rất độc của đòng bào Ve. Những chén rượu nồng được rót đều theo câu ca của già làng, đưa chúng tôi trở về với huyền thoại du dương, trầm bổng giữa bao la đại ngàn hùng vỹ.

Đêm Đắc P’ree, dịu dàng cùng lời hát người Ve…

Du lịch, GO!- Theo Zing

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống