Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Wednesday, 14 March 2012

Trong cuộc nói chuyện với một anh chàng người Mỹ cùng phòng trọ ở thủ đô Zagreb, tôi được biết là sẽ có rất nhiều du khách đến thăm vườn quốc gia Plitvice nên phải book vé trên mạng trước để tránh phải xếp hàng dài. Plitvice đối với Croatia cũng giống như vịnh Hạ Long của Việt Nam vậy. Tôi biết công viên này cũng là do đã từng tổ chức tour cho các đoàn Pháp đi và đã luôn ao ước có một ngày được đi dạo qua những con hồ trong vắt của nó. Plitvice là điểm khơi mào cho thú đi du lịch thiên nhiên của tôi.

Công viên quốc gia Plitvice nằm khá gần biên giới với Bosnia và cách thủ đô Zagreb khoảng 200km về phía nam. Plitvice nổi tiếng bởi đây là một khu rừng nguyên sinh toàn là cây thông trắng và sở hữu một quần thể 16 hồ nước nằm trồng chéo lên nhau và 92 thác lớn nhỏ.


Nước từ các con suối nhỏ chảy qua các vách đá rồi chảy thẳng qua những đoạn thác có khi cao đến 160m. Cùng với thời gian, nước chảy sói mòn đá tạo ra những hang động


Plitvice cũng là nơi có bề dày lịch sử ấn tượng. Khoảng 2000 năm trước công nguyên đã có dấu vết của nhiều bộ tộc qua đây : Thrace, La Mã, Byzantine, người Croate rồi người Hungary. Sau đó, Plitvie nói riêng và Croatia nói chung lần lượt là lãnh thổ của đế chế Ottoman và Áo-Hung. Plitvice đối với người Croate cũng giống như Điện Biên Phủ của Việt Nam bởi tại đây đã xảy ra trận chiến quyết định sự độc lập của Croatia khỏi sự kìm hãm của người Serbia năm 1995.



Hồ và rừng Plitvice hàm chứa nhiều truyền thuyết. Theo người ta kể, một mụ phù thủy, «hoàng hậu đen », đã tạo ra vùng này bằng cách cho mưa thật nhiều để đáp lại lời cầu nguyện của nông dân vùng này sau một trận đại hạn hán. Một số câu truyện khác kể rằng Plitvice xưa kia có biệt danh « khu vườn của quỷ dữ » bởi có nhiều người chết đuối ở đây.


Công viên Plitvice là một ví dụ cho khả năng quy hoạch và phát triển du lịch sinh thái đáng để Việt Nam học hỏi. Lượng du khách vào đây cũng không kém vịnh Hạ Long nhưng người ta tuân thủ nghiêm túc các nội quy về bảo vệ thiên nhiên. Ngoài ra, các con đường đi bộ được quy hoạc rất tốt, đảm bảo du khách không phải va chạm hay xếp hàng dài. Các con đường lát gỗ được sắp xếp rất khéo léo nên người đi có cảm giác như đi vào một khu rừng nhân tạo.


Các con hồ lấy nguồn nước từ 2 nơi : Bijela Rijeka « sông trắng », tên như vậy vì màu trắng của cát vôi, và Crna Rijeka, « sông đen », bởi màu đen của rong rêu dưới đáy sông.


Các vũng nước chia cắt thành hồ ở trên cao và dưới thấp theo độ cao, tạo ra những màu sắc khác nhau. Màu sắc của nước phụ thuộc vào độ sâu của hồ cũng như hàm lượng chất khoáng và ánh sáng mặt trời.


Lần theo những dòng nước chảy xuống thác, tôi đi từ hồ trên cao xuống hồ dưới thấp, ít ồn ào và nông hơn. Vì độ sâu khiêm tốn, « plitvak » trong tiếng croatia, nên tên công viên là plitvice. Các con hồ này cũng chịu sự hóa đá của lòng hồ bởi có chất travertin. Loại đá vôi màu trắng này có nguồn gốc từ sự sói mòn vôi, qua thời gian đọng lại dưới lòng hồ, trong rong rêu và « đá hóa » tất cả những gì nó nằm lên. Quá trình này cứ diễn đi diễn lại nhiều lần, tạo ra cảm giác như ta đang ở trên mặt trăng.



Tuesday, 13 March 2012

Ở Marốc, uống trà là cả một nghệ thuật ẩm thực. Dù giàu hay nghèo, kể cả ông nông dân miền núi cũng sẽ mời bạn một chén trà bạc hà. Trà ở đây là một phong cách sống, kiểu « miếng trầu là đầu câu truyện ». Ở Marốc, người dân không uống trà cả năm mà lại tập trung rất nhiều vào những mùa nóng bức bởi uống trà giúp giữ mát cơ thể. Ngược lại, vào mùa đông thì người ta lại uống Chiba, một kiểu nước gừng giúp hâm nóng cơ thể.  Khi đến bất cứ nhà ai hay vào một cửa hàng, việc đầu tiên mà người Marốc làm là mời bạn cốc trà và việc từ chối không nằm trong vốn từ vựng của họ . Ở đây, từ chối lời mời uống trà bị coi như một điều sỉ nhục hay lăng mạ. 

Trà được pha ở mọi nơi....thậm chí cả trên sa mạc vào buổi tối.
Một chút lịch sử
Với một chút hiểu biết về lịch sử của trà, tôi cũng biết trước là việc tiêu thụ trà ở Marốc không phải là lâu đời, cũng giống như ở Anh phong tục uống trà chỉ sinh ra khi Ấn Độ là thuộc địa của Anh quốc thế kỷ 19. Với lại nhìn vào địa thế Marốc khắc nghiệt như vậy chắc chắn không thể là nơi trồng chè. Bắt nguồn từ Trung Quốc, cũng phải đợi đến thế kỷ 17 dưới thời vua Hồi giáo Moulay Ismail thì trà mới bắt đầu được du nhập vào Marốc. Theo sử sách ghi lại, đó là một món quà do đại sứ Anh Quốc ban tặng cho triều đình. Trà lúc ấy rất hiếm và quý và chỉ được tặng cho những đấng tối cao của một quốc gia. Phong tục uống trà tại Marốc thịnh hành hơn trong công chúng bắt đầu từ sự kiện chiến tranh năm 1854. Lúc ấy, đế quốc Anh xung đột với đế quốc Nga nên toàn bộ vùng biển đen bị chặn lại bởi người Nga. Vì thế, con đường vận chuyển trà từ Ấn Độ đến Châu Âu không thể đi bằng đường biển Đen nữa. Những nguồn hàng tồn kho buộc phải được bán và tiêu thụ ở những nơi khác đặc biệt là tại những hải cảng liên minh hoặc thuộc địa. Nước Marốc lúc bấy giờ lại rất gần đảo Gibraltar (thuộc địa và nay vẫn là chủ quyền của nước Anh) thế nên đã trở thành một thị trường béo bở cho các doanh nghiệp xuất khẩu trà của Anh. Sự có mặt của trà lúc đó ngay lập tức được dân Marốc hưởng ứng nhiệt liệt vì nó là một phương pháp thay thế hợp lý cho các loại cây thuốc hay rượu vang vốn dĩ bị đạo Hồi cấm uống và café, quá đắt. Trong một thời gian dài, Marốc vẫn phải nhập khẩu trà từ Châu Á nhưng từ vài năm trở lại đây người dân bắt đầu thử trồng là chè ngay trên lãnh thổ của mình.

Trà ở Marốc có thể uống mọi lúc mọi nơi, vào buổi sáng hoặc vào buổi chiều. Phục vụ trà cũng là một nghệ thuật. Khi một nhóm người uống trà với nhau, nếu có một ai là chuyên gia pha trà thì trách nghiệm pha trà sẽ thuộc về anh ta. Điều đó chứng tỏ cả nhóm công nhận « tài năng » của anh ta. Tại Marốc, người ta không uống trà ngay sau khi pha. Người ta đợi khoảng 15mn và trong lúc chờ đợi thì tán gẫu với nhau. 

Uống trà kèm bữa sáng...thói quen phục vụ bánh cuộn xuất phát từ thời kỳ Marốc còn là thuộc địa của người Pháp
Người Marốc có thể phán đoán việc pha trà có thành công hay không qua cái nhìn của họ lên bề mặt của chén trà. Nếu có nhiều bọt nổi lên sau khi rót thì có nghĩa là pha trà thành công. Chưa hết, lớp bọt đó phải còn nguyên trong khi uống trà và còn đọng lại dưới đáy chén sau khi uống hết trà. Khoai đấy !!

trách nghiệm pha trà dành cho người "tài năng" nhất
Trà ngon cũng còn phụ thuộc vào chất lượng của lá bạc hà nữa. Lá phải thơm, xanh đậm, hơi dính tay một chút và nhất là phải cứng và bám chắc vào cuống cây. Và muốn tìm được loại cây như vậy thì chỉ có cây nhà lá vườn thôi. 

thói quen rót trà từ rất cao, nhằm tạo ra lớp bọt như ý và để hương vị bạc hà tỏa ra xa hơn

Sa mạc Sahara !! Nghe cái tên này người Việt Nam nghĩ ngay đến một đại dương cát và cuộc sống khổ sở của những người du mục. Nhìn qua màn ảnh nhỏ thì thích thế thôi chứ tôi dám cam đoan là chẳng có mấy ông nào dám đi một tour trên sa mạc đâu, khổ thế ai mà chịu được. Thế nên bản thân những tour đi lênh thênh trên sa mạc nhiều ngày như thế này lại càng hiếm và đối với người dân Marốc, gặp được một đồng chí da vàng ở một nơi khỉ ho cò gáy như thế này chắc cũng hiếm như việc xem Nhật thực ! Thế nhưng chính những dịp giao lưu văn hóa hiếm hoi đó, tôi đã có được những trải nghiệm khó quên.

Trước hết, tôi xin đính chính lại, sa mạc Sahara không phải lúc nào cũng chỉ là những đụn cát đâu mà phong cảnh rất đa dạng, đi từ thung lũng đến ốc đảo và thậm chí còn có những đô thị lâu đời nữa. Tôi đã có dịp khám phá phong tục tập quán của những bộ tộc du mục, họ luôn biết cách thích nghi để sống sót được trên một vùng đất « chó ăn đá gà ăn sỏi » này

VALLEE DES ROSES
Vallée dé Roses hay thung lũng hoa hồng. Tên như vậy vì ở nôi đây người ta trồng hoa hồng. Nghe có vẻ lạ. Ở sa mạc mà trồng được hoa sao ? Có đấy ! Thung lũng này có một may mắn là có một con sông chảy qua, nên cung cấp nguồn nước tưới dồi dào. Đó là lý do vì sao cây côi mọc tốt tươi. Hoa hồng ở đây người ta gọi là « hoa hồng Damascus », chịu được lạnh và mùa hạn hán. Có thể giống hoa này được những người hành hương Hồi giáo mang đến từ vùng Trung Đông xa xôi vào thế kỷ thứ 10. Ngày nay, cả thung lũng trồng hoa hồng chủ yếu để sản xuất nước cốt hoa hồng phục vụ cho nhu cầu địa phương. Phần còn lại thì xuất khẩu để làm nguyên liệu chế biến nước hoa. 





VALLEE DADES
Ra khỏi khu rừng cây cọ xanh rờn, phong cảnh thay đổi dần với màu vàng của cát và dần xuất hiện những ngôi làng bỏ hoang. Đó là  dấu hiệu cho thấy tôi đang tiếp cận thung lũng Dades. Thung lũng Dades là một phản chứng đầu tiên danh cho những ai chỉ biết sa mạc là đụn cát. Đây là một khu vực có khá nhiều ốc đảo do có nguồn nước dồi dào tạo điều kiện cho việc phát triển nông nghiệp. Những vườn cây ôliu, ngô, sung là một trong những đặc thù của thung lũng này. Điểm nổi bật của thung lũng Dades là sự xuất hiện của những Kasbah, một loại thị trấn cổ đặc trưng của Marốc và chỉ phát triển ở những vùng có thời tiết khắc nghiệt như sa mạc. Người bản địa thường gán cho Dades biệt danh « con đường nghìn lẻ một Kasbah ». Đặc trưng với lối kiến trúc phòng thủ được thể hiện rất rõ với những bức tường bằng đất nện dày và cao. Thời xưa rất hay có xung đột giữa các bộ lạc sa mạc và vì thế các Kasbah Phải có hệ thống phòng thủ vững chắc. Bên trong là tập hợp nhiều gia đình sống với nhau, cộng thêm người hầu, kho chứa lương thực, chỗ nuôi gia súc và nơi ẩn náu. Các Kasbah thường được xây trên cao dọc theo lưu vực sông Dades. Chỉ riêng trên trục đường tôi đi cũng đã bắt gặp đến 7 Kasbah khác nhau. 

Khung cảnh hùng vĩ của Kasbah thường làm phim trường cho nhiều bộ phim Hollywood
Từ hơn một nghìn năm các bộ tộc du mục (gọi là berber) đã sử dụng những phương pháp truyền thống để xây nên những pháo đào kiên cố như thế này. Lối kiến trúc berber chưa bao giờ chịu ảnh hưởng của những quộc chinh phục ả rập. Kasbah chính là minh chứng rõ ràng cho lối kiến trúc đặc trưng Marốc và khá giống với những ngôi nhà bình dân ở Yemen.
Kasbah đối với những người của sa mạc giống như lâu đài của người Châu Âu thời trung cổ. Chỉ có các quận chúa mới được phép trấn giữ Kasbah, như là những người giữ biên cương cho vua Marốc. Kasbah trấn giữ và bảo vệ những ốc đảo, nơi sản xuất lương thực
Các Kasbah đều tuân theo những phương pháp xây dựng nhất định. Trên nền móng bằng đá dựng nên những bức tường thành rất dày và cao. Các bức tường được nối với nhau bằng các chòi canh đồ sộ. Chất liệu xây dựng chủ yếu là đấn nện pha trộn với rơm, được chế biến theo phương pháp thủ công nhằm cách nhiệt vào mùa hè và mùa đông.
Cậu hướng dẫn viên giải thích cho tôi rằng không phải Kasbah nào cũng là pháo đài dành cho quận công. Đôi khi, Kasbah chỉ đơn thuần là một làng mạc nhỏ của những gia đình du mục muốn sống cố định tại một nơi nên xây một hệ thống phòng thủ đơn giản hơn. Vì không đủ kinh phí để xây tường cao và kiên cố như các quận công, họ thường chọn xây làng mạc tại những địa điểm hiểm trở khó tấn công như cạnh vực thẳm hay trên một mỏm đá.
Nhưng với thời tiết xấu và việc xây nhà hiện đại hơn, những công trình này bị bỏ hoang và có nguy cơ biến mất khỏi bản đồ Marốc. Thật vậy, cũng giống như tất cả các khu vực sa mạc, mưa bão ít khi đổ xuống nhưng hễ có thì lại rất to và dễ làm sói mòn những công trình chỉ xây bằng đất nện. Người dân du mục thì lại hiếm khi chịu khó tu sửa lại nhà ở của họ sau mỗi trận mưa mà lại hay chuyển đi xây nhà ở nơi khác. Với khuynh hướng bỏ làng mạc và chuyển đến sinh sống gần thành phố, các công trình kiểu này bị bỏ hoang.

Càng đi dọc theo thung lũng, tôi càng thấy hai bên sườn dần thu hẹp lại và đường đi dần dốc lên. Càng đi tôi cũng thấy màu xanh của cây cối ít dần đi. Lúc này hai bên tôi là những vách đá cao hơn 300m trong khi lối đi ở giữa thì nhiều khi không rộng quá 20m.


 Lên đến đỉnh, tôi xâm nhập vào vùng núi có tên gọi « ngón tay của khỉ ». Truyền thuyết  kể rằng ngày xửa ngày xưa, có một đám cưới rất to ở đay. Người tham gia uống nhiều rượu nên xay xỉn và ném thức ăn bừa bãi lên vách núi. Thánh Allah tức giận quá nên hóa đá cả lũ. Nhìn vào hình dánh mấy mỏm đá đúng là cũng hơi giống người thật nhưng mà với điều kiện phải cỏ chút trí tưởng tượng !

THUNG LŨNG DRAA
Thung lũng Draa trước kia là một con sông dài và rộng nhưng với hạn hán và tấn công của sa mạc, sông cạn dần và để lại dấu vết là những ốc đảo và rừng cọ trong lòng sa mạc Sahara. Chính vì thung lũng Draa phát triển dọc theo sông nên dài lắm, cũng phải khoảng 1200km. 

Xưa kia, khi dòng sông còn đầy nước, các đoàn caravan ả rập từ Trung Đông xa xôi đi dọc theo sông và trao đổi hàng hóa với các làng mạc phát triển ven sông.
 Các sản phẩm trao đổi khá phong phú : ngọc trai, muối, vàng, nô lệ, da thuộc và hạt tiêu. Những cuốn sách cổ còn nói đến một thung lũng phồn hoa và có cả cá sấu !
Ngày nay, thung lũng Draa được biết đến như là một dải ngân hà những ốc đảo phát triển ven sông. Người dân địa phương gọi đùa là « đường ray tàu ».
Kể cũng đúng. Bạn thử nghĩ mà xem, chiều dài con sông tương ứng với đường ray tàu. Dọc theo con sông là những « nhà ga » tương ứng với các ốc đảo. Du khách hay những đoàn caravan dừng quá giang tại ốc đảo, chất đầy lương thực rồi lại đi tiếp.


Tôi dùng dịch vụ ô tô 4x4 thăm một đoạn ngắn và tiến thẳng đến thị trấn Zagora,nơi khởi hành những cuộc phiêu lưu bằng lạc đà vào sa mạc. Zagora chính là ốc đảo cuối cùng, trước khi chính thức tiến vào sa mạc Sahara với những đụn cát mà ta vẫn thường xem qua màn ảnh nhỏ. Có thể nói Zagora là ranh giới giứa nền văn minh loài người và thiên nhiên hoang dại. Bắt đầu từ đây, tôi sử dụng lạc đà một bướu để khám phá biến cát vàng này. Những đụn cát khổng lồ cao hơn 150m với màu vàng ban ngày và chuyển sang màu đỏ huyền ảo theo ánh mặt trời hoàng hôn

Common! Lên đường nào


Dọc đường, thỉnh thoảng có những quán giải khát dành cho khách du lịch. Tội nghiệp mấy đồng chí Berber, có khi ngồi vêu cả ngày mà chẳng có khách
Đồng chí Abil, hướng dẫn viên của tôi ngẫu hứng với món ván trượt. Chắc anh ta nghiện xem phim Mỹ.

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống