Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Wednesday, 9 May 2012

Được biết đến là một vùng đất công nghiệp, có trữ lượng than lớn nhất của cả nước, Cẩm Phả không phải là địa phương có nhiều thế mạnh về tiềm năng phát triển du lịch nhưng nơi đây cũng có không ít những điểm di tích lịch sử và cảnh đẹp hấp dẫn đã và đang thu hút khách du lịch đến tham quan...

Trước hết, phải kể đến khu di tích đền Cửa Ông, bất cứ ai khi đặt chân đến Quảng Ninh theo hành trình lễ hội cũng không thể bỏ qua khu di tích lịch sử này. Đền Cửa Ông thờ vị tướng Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng, người con thứ 3 của vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn; ông đã từng trấn thủ vùng cửa biển Đông Bắc trong những năm từ 1285-1288, là người lập công lớn trong 2 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Sau chiến thắng, ông được giao cho cai quản khu vực này rồi ở lại đây và qua đời vào năm 1311. Để tưởng nhớ công lao to lớn của ông, người dân địa phương đã lập đền thờ.

Ngôi đền toạ lạc trên một quả đồi, thuộc địa phận phường Cửa Ông, lưng tựa vào dãy núi đất phía Bắc, mặt quay ra Vịnh Bái Tử Long. Cấu trúc ngôi đền rất độc đáo và khá đồ sộ theo lối chữ Tam với đền Hạ, đền Trung và đền Thượng tạo thành một quần thể kiến trúc hình chân vạc.

Đứng từ trên đền Thượng, du khách có thể ngắm nhìn bao quát cả một vùng biển trước mặt với những núi đá nhấp nhô và tàu bè nhộn nhịp qua lại. Đến với đền Cửa Ông, du khách không chỉ được tìm về với giá trị văn hoá lịch sử, tâm linh mà còn được tận hưởng một giá trị nghệ thuật độc đáo. Cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ bao quanh ngôi đền hoà lẫn những đường nét cổ kính duyên dáng làm cho ngôi đền càng trở nên tôn nghiêm mà không xa lạ. Mỗi năm, mùa xuân về, đền Cửa Ông lại thu hút hàng chục vạn lượt du khách đến tham quan.

Tiếp đến là ngôi chùa Phả Thiên, nằm trên địa bàn phường Cẩm Sơn, chùa được xây dựng từ năm 1935. Đây là một ngôi chùa có kiến trúc đẹp, nằm trong một khuôn viên rộng, đẹp nên ngày càng thu hút nhiều du khách và tăng ni phật tử mọi nơi về vãng cảnh và lễ Phật.

Cùng với 2 địa danh trên, nói đến Cẩm Phả, không thể không nói đến quần thể du lịch Vũng Đục. Nằm bên Vịnh Bái Tử Long, Vũng Đục là nơi đã chứng kiến tội ác dã man của thực dân Pháp và bọn tay sai trong cuộc tàn sát những người cộng sản thời kỳ Vùng mỏ còn nằm dưới gót giày của chúng. Bên cạnh khu vực đài tưởng niệm là khu đền và hang động Vũng Đục.

Đến khu hang động Vũng Đục, du khách có thể men theo các triền núi đá, thưởng ngoạn thú leo núi và thám hiểm các hang động. Khu hang động Vũng Đục được liên kết bởi 5 hang động hoành tráng và kỳ vĩ với các tên gọi như: Động Thiên Đăng, Long Vân, Ngỡ Ngàng, Hang Kim Quy, Hang Dơi. Trong các hang động, du khách có thể thoả thích ngắm nhìn những tác phẩm tạo hình của tạo hoá với những nhũ đá, phiến thạch lung linh sắc màu.

Trên độ cao lý tưởng của động Thiên Đăng, du khách có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Vịnh Bái Tử Long. Không chỉ vậy, cũng từ khu du lịch Vũng Đục, du khách có thể đi tàu ra thăm một số đảo và khu du lịch trên Vịnh Bái Tử Long như khu du lịch sinh thái đảo Thẻ Vàng, Cống Tây, Cống Đông, hòn Nêm, đảo Rều (hay còn gọi là Đảo khỉ vì ở đây nuôi rất nhiều khỉ)...

Ngoài ra, Cẩm Phả còn khá nổi tiếng với nguồn tài nguyên khoáng nóng. Hiện nay, trên địa bàn thành phố có 2 nguồn khoáng nóng lớn, đó là khoáng nóng Tam Hợp (phường Cẩm Thạch) và khoáng nóng Quang Hanh (phường Quang Hanh). Theo các nhà khoa học, nguồn khoáng nóng này có nồng độ Brôm cao, kết hợp với nhiều loại vi khoáng có tác dụng chữa bệnh, có lợi cho sức khoẻ. Những năm qua, nguồn tài nguyên này cũng đã được khai thác để phục vụ người dân địa phương và du khách. Bước đầu tại các địa điểm này đã hình thành các khu nghỉ dưỡng và thu hút hàng vạn lượt khách mỗi năm.

Được biết, trong mục tiêu xây dựng và phát triển thành phố, Cẩm Phả tập trung phát huy thế mạnh công nghiệp, đặc biệt là dịch vụ - du lịch, tạo sức bật phát triển hài hoà kinh tế - văn hoá - xã hội. Hiện tại, thành phố đang chuẩn bị đầu tư xây dựng, mở rộng các khu nghỉ dưỡng tại các điểm khoáng nóng, khu nghỉ dưỡng đập nước Đá Chồng (Cẩm Thuỷ - Cẩm Thạch), khu sinh thái Mai Én (Quang Hanh)...

Du lịch, GO! - Theo báo Quảng Ninh, ảnh internet
Dường như mỗi làn điệu quan họ thắm tình mượt mà đã hòa quyện trong từng chiếc bánh khúc, nên chiếc bánh làng Diềm cũng đậm đà thủy chung như muốn níu chân “người ơi, người ở đừng về…”.

Chẳng biết từ khi nào bánh khúc làng Diềm (Yên Phong, Bắc Ninh) lại nổi tiếng và thu hút du khách gần xa như thế, chỉ biết rằng từng chiếc bánh tròn nhỏ như nắm xôi ấy đã tạo nên một nét văn hóa ẩm thực riêng cho mảnh đất Kinh Bắc này.

Khi những người nông dân kết thúc vụ thu hoạch lúa cũng là lúc mùa rau khúc bắt đầu mọc. Chẳng ai trồng rau khúc mà nó cứ âm thầm mơn mởn mọc lên ở những luống cày, bãi phù sa màu mỡ. Loài cây có màu xanh và hơi óng ánh nhũ bạc ấy đã dâng hiến cho mảnh đất Kinh Bắc này một món quà quê quý giá mang tên chính loại lá độc đáo làm ra nó - đó là bánh khúc làng Diềm ngày nay.

Bánh khúc làng Diềm có hai loại: nhân hành và nhân đỗ. Bánh khúc nhân đỗ có vị bùi của đỗ, vị ngậy của thịt mỡ và thơm của hạt tiêu. Bánh khúc nhân hành có khác hơn đôi chút: hành được dùng làm nhân bánh khúc nhất thiết phải là hành khô, cộng thêm mộc nhĩ, hạt tiêu, rau răm, thịt ba chỉ băm nhỏ trộn lẫn với nhau.

Bánh khúc thường được người dân làng Diềm nặn với hai hình thù khác nhau, hình tròn như chiếc bánh rán hoặc hình tai voi. Dù được nặn bằng hình thù nào thì vỏ bánh cũng được dát rất mỏng và không bị lộ nhân.
Để làm nên những chiếc bánh khúc nhỏ xinh, đòi hỏi phải có sự cần mẫn, tỉ mỉ, khéo léo của người xưa truyền lại.

Trước tiên là việc hái rau khúc ngoài đồng. Theo kinh nghiệm, muốn bánh khúc có hương vị thơm đặc trưng nên chọn rau khúc có bản nhỏ, dày bụ, màu bạc, được hái lúc ra hoa là tốt nhất, bởi hoa khúc càng già thì hương vị bánh càng đậm.

Xưa kia gạo nếp làm bánh khúc là gạo nếp cái hoa vàng nổi tiếng và phải được chọn lựa kỹ, bởi nếp ngon bánh mới mềm và dẻo, nhưng ngày nay khi giống nếp cái hoa vàng trở nên khan hiếm thì người làm bánh cũng có thể thay bằng loại gạo khác.

Bột làm bánh không phải hoàn toàn là gạo nếp mà theo tỉ lệ 8 gạo nếp 2 gạo tẻ. Gạo tẻ sau khi đem ngâm được giã nhuyễn với rau khúc, tỉ lệ gạo và lá làm bánh cũng là một bí quyết để có được nồi bánh như ý, bởi nếu nhiều gạo quá bánh khúc sẽ không có mùi vị đặc trưng của lá khúc, hay lượng gạo không đủ bánh sẽ thiếu đi độ kết dính.

Nhân bánh khúc làm bằng đậu xanh bỏ vỏ, ngâm bở, đem đồ chín tới, giã thật mịn rồi viên lại bằng quả trứng gà, thêm miếng thịt ba chỉ hạt lựu và chút hạt tiêu cho dậy mùi. Sau khi dàn mỏng lớp vỏ bao quanh kín nhân bánh, nhẹ nhàng xếp những nắm xôi vào chõ như đồ xôi, mỗi lớp bánh lại được rắc một lớp gạo nếp đã ngâm kỹ, cả đáy và miệng nồi phủ lá chuối xanh cho thơm. Sau đó đậy vung chặt đun đều lửa, bánh chín sẽ có một lớp áo xôi khoác bên ngoài trông rất hấp dẫn.

Người dân nơi đây vẫn thường nói với nhau rằng bánh khúc làng Diềm là sự kết hợp tuyệt vời của các sản vật thiên nhiên, từ cái dẻo thơm của nếp cái hoa vàng, vị bùi của đỗ xanh sánh quyện cùng vị béo của thịt ba chỉ. Tất cả được dung hòa bởi vị mát lành, nồng ấm của một loại rau làm nên hương vị đặc trưng của bánh - rau khúc.

Bánh khúc là thứ quà có thể giúp người ta đỡ đói lòng khi lỡ bữa. Có lẽ với nhiều người bánh khúc chẳng có gì là lạ nữa, nhưng để ăn một chiếc bánh khúc ngon, nhớ đời thì chẳng đâu bằng bánh khúc làng Diềm.

Thưởng thức bánh khúc khi còn nóng cùng với muối vừng hay muối lạc mới thấy hết được hương vị rất riêng của nó, thứ hương vị tự nhiên của ruộng đồng được kết hợp một cách khéo léo, tài tình gửi trọn trong tấm bánh bé nhỏ. Và khi thưởng thức người ta chỉ có thể thốt lên “Ôi hương đồng cỏ nội quê mình là đây”.

Du lịch, GO! - Theo TTO, internet
Từ Tp. Lào Cai, xuôi theo quốc lộ 4D, du khách sẽ đến xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Tiếp tục xuôi theo tỉnh lộ 153, qua thị trấn Bắc Hà khoảng 10km, du khách sẽ đến với Lùng Phình.

Lùng Phình - một địa danh hình thành từ rất lâu đời, nằm trong một vùng thung lũng có hình lòng chảo mà bao quanh là đồi núi trùng điệp ngút tầm mắt. Theo tiếng quan hỏa - thứ ngôn ngữ chung của một số tộc người trên dải biên cương phía bắc, Lùng Phình có nghĩa là Rồng Bằng.

Chợ Lùng Phình họp vào ngày chủ nhật hàng tuần, ngay bên cạnh con đường 153 - con đường độc đạo nối thị trấn Bắc Hà với thị trấn biên ải Si Ma Cai (huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai).

Nhìn từ xa, khung cảnh phiên chợ Lùng Phình thật đẹp và sinh động. Ngay từ sáng sớm, khi núi rừng vùng thung lũng vẫn còn đậm hơi sương, từng đoàn người Mông, Hoa, Giáy, Tày, Phù Lá… trong trang phục đặc trưng của dân tộc mình từ các bản làng nô nức kéo nhau về chợ: người đi bộ, người đi ngựa mang theo các sản phẩm dệt may, nông sản và gia súc…

Chợ được chia thành các khu riêng biệt: Khu ẩm thực; khu rượu dân tộc; khu gia súc, gia cầm và khu bao gồm các loại rau, thảo quả, sản phẩm thổ cẩm cùng các mặt hàng khác.

Khu ẩm thực gồm có ba dãy nhà lợp mái tôn, được thiết kế theo hình chữ U. Tại đây, du khách sẽ có dịp được thưởng thức một số món ăn đặc sản dân tộc như: Món phở chua của người Phù Lá mang đậm hương vị núi rừng; món Thắng cố - món ăn đặc sắc của người Mông, bao gồm tất cả các nội tạng của một số loại gia súc như: Trâu, ngựa, lợn, dê...

Cách khu ẩm thực khoảng vài trăm mét là khu bày bán các loại rượu do đồng bào dân tộc chế biến; trong đó nổi tiếng nhất là rượu ngô Bản Phố.

Từng can to, can nhỏ được người bán bày ra và người mua có thể thưởng thức hương vị của rượu trước khi mua mang về. Quả thật, hương vị của các loại rượu cũng ấm áp như tấm lòng người dân nơi đây, khiến du khách không dễ gì quên được dẫu đến đây chỉ có một lần…

Tuy nhiên, nổi bật nhất có lẽ lại là khu vực bán gia súc, gia cầm như: Trâu, bò, lợn, dê, chó, ngựa, gà, vịt… Không khí trong khu vực này thật náo nhiệt; người mua, kẻ bán, đứng, ngồi rải rác và cùng thỏa thuận mua bán với nhau.

Bên cạnh đó là các dãy hàng rau, thảo quả, gạo, bánh kẹo cùng các sản phẩm thổ cẩm với những hoa văn tinh tế, màu sắc sặc sỡ thể hiện tài năng khéo léo trong trồng bông dệt vải của người phụ nữ Tày, người phụ nữ Mông; còn dãy bày bán những đồ dùng trong gia đình như: cuốc, lưỡi cầy, dao phát… thể hiện kỹ thuật tinh xảo trong nghề rèn, đúc nổi tiếng của người Mông.

Trong tiếng ồn ào mua bán, nghe đâu đó tiếng khèn và tiếng hát lúc trầm, lúc bổng của các chàng trai trẻ như mời gọi các cô gái miền sơn cước.

Đến với phiên chợ Lùng Phình là du khách có dịp được tận hưởng sự giao thoa bản sắc văn hóa của nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trong vùng đất này. Đặc biệt, du khách sẽ có dịp được tham dự ngày hội giao duyên của các nam thanh nữ tú từ các bản làng gần xa trong vùng.

Du lịch, GO! - Theo Vietnamtourism, ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống