Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Sunday, 17 June 2012

Một bữa nào đó, chợt thấy mình là người miền Tây, lại làm báo, mà rất ít hiểu biết về miền Tây, giống in như một người con cứ mãi rong chơi đâu đâu, lâu lắm không thèm về quê mẹ, hoặc nếu có cũng chỉ đáo qua. Vậy là cứ mỗi khi có dịp, tôi lại “kiếm cớ” một chuyến đi…

Muốn “đi bụi” miền Tây, bạn không cần gì nhiều đâu. Vài bộ đồ nhẹ nhàng, giờ có thẻ ATM thì tốt rồi nhưng vẫn phải dằn túi chút đỉnh, bởi cái máy này chỉ khi vui nó mới chịu nhả tiền ra thôi. Và thể nào cũng phải có người thân, bạn bè chí cốt, đủ để chia sẻ những hoàng hôn lặng lẽ hoặc vài tia nắng đầu ngày…
Miền Tây là xứ sở sông nước, nên có thể men theo sông mà đi miết là có thể tới bất cứ nơi đâu.

Nếu bắt đầu từ “cái rốn” là Vĩnh Long, cứ ngược sông Hậu sẽ đến nơi mà dòng Mekong bắt đầu có tên gọi Cửu Long và chia làm 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu tại Tân Châu. Chẳng hiểu sao, khi đứng ở ngã ba sông này, lòng chúng tôi cứ nôn nao, như thể “chạm” được vào quê hương.

Sông cái mênh mông là vựa cá cho Nam Bộ. Cá bông lau, cá ngát và con cá tra, ba sa từ biển Hồ theo mùa nước nổi về đây, đã làm nên làng bè lớn vào bậc nhất miền Tây. Từ đây, con khô cá tra phồng, khô sặt rằn, khô cá dứa thơm nức cả vùng. Chỉ ngó món mắm ruột làm từ ruột cá lóc hay món mắm thái, lạng từ nạc cá lóc cũng đủ hình dung ra vùng đầu nguồn cá bạc tôm vàng.

Đứng bên đây bờ Tân Châu, ngó qua bên kia đã là sông Tiền miệt Hồng Ngự (Đồng Tháp), nơi mà con cá tra giống nhân tạo đầu tiên được sinh ra, đã giúp người miền Tây hơn chục năm nay thêm nhiều triệu phú, tỷ phú, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu thủy sản nước ngọt. Và cũng trải lắm thăng trầm để học bài học “chợ nhà- chợ quốc tế” không thiếu đắng cay.

Như Trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT Hồng Ngự, Nguyễn Trạng Sư đăm chiêu nói với chúng tôi: “Bây giờ không còn ai làm nghề vớt cá giống, vì còn đâu mà vớt. Nhưng cũng không ít những “đại gia cá giống” mà tên tuổi đã vượt rất xa khỏi huyện lỵ nhỏ bé này”.

Men theo sông Tiền, đi qua những xóm làng trù phú. Với những tên cây tên trái mang bóng hình xứ sở, đậm vị quê hương, sầu riêng Sáu Ri hay vú sữa Lò Rèn, xoài cát Hòa Lộc… Rồi xuôi dòng ra biển cả, để qua xứ dừa Đồng khởi- Bến Tre, nơi có diện tích dừa lớn nhất, nhiều giống dừa nhất cũng như nhiều sản phẩm chế biến từ dừa- không chỉ nhất của ĐBSCL mà còn nhất nước. Ngó cây dừa sai oằn trái và nhấp ngụm nước dừa xiêm, làm sao không nhớ mấy câu thơ “tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ, dừa ru tôi tiếng hát tuổi thơ…” mát rượi tận đáy lòng.

Đứng trên đập Ba Lai lộng gió- một trong chín cửa sông rồng đã được đầu tư cải tạo thủy lợi, để cảm nhận sự giàu có của vùng duyên hải miền Tây. Bên này đập là biển mặn đục ngầu, nhưng bên trong đã là nước ngọt phù sa. Đã có nhiều tranh cãi về chuyện làm thay đổi một vùng đất đặc thù cửa sông. Nhưng theo người dân nơi đây, đập đã giúp giữ ngọt ngăn mặn trong thời gian qua. Chắc sẽ càng có ích trước biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong tương lai.

Con nghêu Bến Tre giờ đây cũng đã hết phận long đong, nổi tiếng tầm “quốc tế”, ngư dân hét giá hàng vài chục ngàn đồng một ký. Cũng ở đây, cảnh tranh cướp nghêu đã gợi lên nhiều suy nghĩ lẫn băn khoăn...

Một chiều nào đó, “nghe tiếng đàn ai rao sáu câu…” tôi lại men theo dòng Hậu Giang về xứ Bạc Liêu, vùng đất của bản ca vọng cổ đầu tiên “Dạ cổ hoài lang” buồn man mác, để ra cửa biển Trần Đề ngóng vọng xa khơi. Làm quen với những người đầu sóng ngọn gió và nếm thử con cá dạ đỏ ngọt lừ, đang là “vua xuất khẩu” giá mỗi ký vài trăm ngàn đồng. Nếm thử hạt muối mặn lừ của mưa gió thị trường. Lắng lòng nghe câu chuyện đường sá khó đi, xăng dầu đắt đỏ, bão tố nguy nan… của ngư dân. Hiểu rằng, mỗi miếng ăn từ biển đẫm mồ hôi và nước mắt.

Đi qua những ruộng vườn, sông nước mà không gặp người miền Tây thì coi như… chưa tới đất này. Thật mà, tôi đã gặp những người miền Tây, mà qua thời gian, nhiều người tôi đã quên mặt, quên tên, nhưng tình người vẫn đậm đà trong hoài niệm. Đó là chén xôi nếp than với tôm thẻ kho mặn lúc nửa đêm- mà chị chủ nhà nuôi chúng tôi những ngày đi công tác đã đánh thức: “Nghe mấy em nói chưa biết ăn xôi nếp than. Chồng chị mới trút được mớ tôm tươi, chị nấu xôi, kho tôm liền. Dậy ăn đi cho biết”. Và chén xôi nửa đêm ấy- hẳn vợ chồng chị không hề biết rằng, đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi, niềm tin tình người của tôi qua biết mấy quãng đường đời mà đôi khi rất thất vọng.

Đó là dì Sáu vừa nhai trầu, vừa chỉ căn nhà trống huơ hoác, không cửa nẻo trước sau: “Có hai bồ lúa lận mà, bây ở tới chừng nào cũng được. Làm hết công chuyện hả dìa trển” ở một miệt đồng xa mút của Giá Rai. Còn anh Bảy thì băng cánh đồng xa mỏi mắt trong chiều chạng vạng để kiếm một ống khói đèn- giữ ánh sáng đêm bằng hạt đậu cho chúng tôi… ngủ.

Đó là anh Việt, là chú Tám, chú Hai,… trải từ sông Tiền qua sông Hậu, từ cánh đồng đến đảo khơi, đã sẵn lòng giúp những “khách bụi đường xa” mà không hề mong một ngày đáp lại. Tôi thầm nghĩ, nếu ai chưa từng hiểu hoặc chưa từng biết tại sao Lục Vân Tiên có sức sống lâu bền đến vậy thì hãy vác ba lô lên lưng, làm một chuyến miền Tây.

Tính ra, mình cũng đã có hàng chục năm trời với những chuyến đi, nhưng là một người miền Tây và thêm chút nữa- một nhà báo, tôi thấy mình mới hiểu được một phần quá nhỏ, mới chỉ “ngang qua” mà lại nợ nần biết bao nghĩa tình, biết bao điều chưa nói hết, chưa viết được. Như trăn trở của kỹ sư Nguyễn Trạng Sư cũng là của người miền Tây: “Nếu Ủy ban quốc tế sông Mekong không làm quyết liệt để tạo sự thông thoáng cho sông, thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến ĐBSCL cả về sinh hoạt, đời sống và sản xuất của người dân”. Cho nên ước mơ- bạn đừng cười đấy nhé, là sẽ “xuyên qua miền Tây”.

Thật thích cảm giác khi thành phố nhỏ còn mơ ngủ, trong sương khuya lành lạnh, lặng lẽ chất ba lô lên xe rồi băng vào màn đêm mờ tối…

Du lịch, GO! - Theo Phương Nam (Nguoilaodong), internet

Saturday, 16 June 2012

Phú Quý là một huyện đảo thuộc tỉnh Bình Thuận, cách bờ biển Phan Thiết 54 hải lý có những roi cát trắng và biển xanh ngắt. Phú Quý cũng có rất nhiều đảo kỳ lạ ví dụ như “đảo Rắn”.

Thực ra đây là Hòn Đen nhưng vì nổi tiếng là nơi định cư của vô số các loài rắn khác nhau, trong đó có nhiều loài quý hiếm mà chỉ ở đảo mói có. Bên cạnh rắn, dựa vào sự độc đáo của từng đảo mà các đảo của Phú Quý còn có tên Hòn Đỏ với nhiều loại cá có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao. Hay Hòn Trứng với những bãi đá tròn đủ màu sắc… quanh năm lấp lánh dưới ánh mặt trời.
Và đặc biệt tại Phú Quý có loài cá Nhái. Cá nhái hình dáng giống như cá hố hoặc cá rơm ngoài biển nhưng thân hình tròn cỡ cổ tay người lớn, mỏ cá dài và nhọn, răng rất sắc, có màu trắng xanh, xương cá cũng có màu xanh, ngư dân ở đây gọi là cá nhái nhưng ở nơi khác còn gọi là cá xương xanh.

Loài cá này thường sống ở tầng nước mặt.  Xung quanh đảo Phú Quý-Bình Thuận khoảng 18 hải lý trở ra, ngư dân thường xuyên bắt được cá nhái. Cá nhái Phú Quý có chiều dài từ 0,7 đến gần 1 m, nặng từ 1- 2 kg, có con nặng đến 4-5 kg.

Khai thác

Có rất nhiều cách để bắt cá nhái. Trước kia người dân Phú Quý thường dùng thuyền buồm để khai thác. Nhờ cánh buồm và sức đẩy của gió, ngư dân điều khiển chiếc thuyền chạy với tốc độ vừa phải, kéo phía sau  là một dãy dây câu không có lưỡi, mà thay vào đó là 1 chùm dây bằng nilon, được đánh tơi ra thành nhiều sợi mỏng nhỏ (địa phương gọi là tớt).

Mỗi tớt chiều dài khoảng 15 cm, phần đầu nhuộm màu đỏ, phần còn lại nhuộm màu xanh lá cây. Một đầu tớt cột chặt vào dây cước câu, một đầu thì thả trong nước, khi bị thuyền kéo đi, đầu tớt xòe ra giống như con cá đang bơi. Loại tớt này chỉ câu được duy nhất loài cá nhái (chúng thích ăn cá suốt sống nên khi gặp tớt, sẽ nhầm là con mồi. Sau khi ăn tớt, răng cá sẽ dính những sợi ny lon  nhỏ li ti, không thể nào thoát đi được.

Ngư dân Phú Quý còn dùng cần câu, tìm những ghềnh đá nhô, rồi quăng tớt ra xa (bạt tớt) sau đó cuốn vào để tớt như con cá đang  bơi. Cuốn càng nhanh thì cá ăn càng mạnh, độ dính tớt sẽ cao hơn. Có một thời gian, ngư dân Phú Quý dùng lưới để đi đánh cá nhái và trúng rất đậm. Đã có nhiều người thoát nghèo nhờ nghề đánh lưới nhái.

Chĩa cá

Hiện nay, người dân Phú Quý lại có thêm một cách khai thác mới loài cá này mà hiệu quả gấp nhiều lần các kỹ thuật truyền thống, đó là nghề chĩa cá nhái đêm. Theo lời kể của anh Sáu năm nay vừa tròn 30 tuổi, trú tại thôn Đông Hải, xã Long Hải, là một trong những ngư dân làm nghề này đầu tiên trên đảo thì gốc của nghề này xuất phát từ Nha Trang – Khánh Hòa. Trong một lần đi Nha Trang, anh thấy ngư dân ở đây bắt cá nhái rất đơn giản nhưng hiệu quả cao, vì thế anh quyết tâm học nghề để đưa về Phú Quý.

Phương tiện để hành nghề chĩa cá nhái gồm 1 chiếc thuyền có vỏ bằng hợp kim nhôm dài khoảng 7m, bề rộng 1,2m. Thuyền được gắn máy Kole 15 (hay còn gọi là máy đuôi tôm); 1 cây chĩa có 13 răng dài khoảng 3,5m, lưỡi bằng Inox; 1 chiếc đèn soi đội trên đầu và một số bình điện ắc quy 12V để làm nguồn điện dự phòng trong lúc soi tìm cá. Thời gian đầu để có phương tiện hành nghề, ngư dân chỉ bỏ ra trên dưới 40 triệu đồng nhưng  thời điểm hiện nay phải bỏ từ 60 – 70 triệu đồng, vì đây là nghề mới đang thịnh thành.

Cách chĩa

Thường thì cá nhái xuất hiện quanh năm, rộ nhất từ tháng Giêng đến tháng 8 (ÂL). Điểm đặc biệt của nghề chĩa cá nhái ở Phú Quý là trên thuyền duy nhất có 1 người nhưng phải làm tất cả công việc, từ khâu chạy thuyền cho đến việc tìm kiếm, phát hiện và chĩa cá. Vì thế bộ phận điều khiển thuyền được thiết kế ở phần trước của mũi thuyền, tay lái được thiết kế bằng vô lăng giống như  ôtô, lúc chạy  dò tìm cá, ngư dân đứng trước mũi thuyền, dùng chân điều khiển thuyền chạy với tốc độ nhanh, tay cầm chĩa, đầu đội đèn soi, quay qua lắc lại 1800 như tín hiệu từ ngọn đèn hải đăng để tìm cá.

Nhờ ánh sáng của 2 bóng đèn đội trên đầu có tầm chiếu sáng 10m, trong bán kính đó ngư dân phát hiện cá bằng nhiều cách, có lúc thì gặp cá đang đứng lững lờ sát mặt nước, lúc đó chỉ việc cho thuyền chạy chậm lại và chĩa cá ngay; có lúc chỉ thấy cá quẫy nước từ xa phải lanh tay cúp đèn và cho thuyền chạy nhanh đến địa điểm đoán chừng trước, rồi bật đèn lên tìm cá để chĩa  (lúc đó cá bị động nếu ta cứ chong đèn sáng quá, cá sẽ tẩu thoát mất).

“Làm lâu rồi cũng có nhiều kinh nghiệm, cứ khoảng 10 lần chĩa thì chỉ có khoảng 2 lần sẩy cá, hơn nữa lưỡi chĩa có tới 13 răng nên không trúng răng này cũng trúng răng khác”, anh Võ Minh Thức (24 tuổi) thường trú tại thôn Triều Dương, xã Tam Thanh, có 8 năm làm nghề chĩa cá nhái đêm ở Phú Quý cho biết thêm.

Hiện nay nghề chĩa cá nhái đêm ở Phú Quý đang là nghề hái ra tiền. Những lúc vào vụ mùa, sau một đêm đi chĩa, có thuyền mang về từ 4 – 5 tạ cá nhái tươi đem bán cho thương lái các chợ trên huyện hoặc tàu dịch vụ thu mua, nhiều ngư dân đã phất lên nhờ nghề này.

Món ăn từ cá nhái

Cá nhái ở Phú Quý thịt nhiều, ngọt có màu trắng được các bà nội trợ ưa chuộng vì  nhiều chất dinh dưỡng và có thể chế biến các món ăn ngon như: nướng muối ớt, quấn giấy bạc nướng, kho ngót, nấu canh chua, làm gỏi cá nhái, phơi khô... Nhưng ngon nhất có lẽ là món tái chanh hoặc chấm với mù tạt. Cá nhái còn tươi đem thái thành những miếng mỏng, thịt rất trắng cho vào đĩa tái chanh ăn liền hoặc cho vào tủ lạnh độ chừng 15 phút rồi lấy ra chấm với mù tạt cho tí xì dầu vào, làm thêm vài ly rượu đế là hết ý.  Nếu ai chưa một lần thưởng thức các món ăn chế biến từ cá nhái Phú Quý thì thật tiếc!

Du lịch, GO! - Theo CHÂU THỌ (Bình Thuận Online)
Tôi trở lại Hương Trà bằng ký ức của hơn 20 năm trước, trên con đường đất băng qua những vườn thanh trà trĩu quả ven con sông Bồ thơ mộng để đến làng Lại Bằng, xã Hương Vân. Một xã tiếp giáp núi và đồng bằng, nơi đã ghi lại dấu ấn lịch chống giặc ngoại xâm của Thừa Thiên Huế - địa đạo Khe Trái.

Hồi ấy chỉ có một con đường khá rộng đủ hai làn xe chạy từ Văn Xá đến Lại Bằng, còn lại là đường nhỏ, muốn đi thì phải đi qua chiếc cầu ván thô sơ hoặc cầu được bắc bằng hai thanh đường ray tàu hỏa, người đi phải thuần thục nếu không sẽ bị rơi tỏm xuống hói nước. Thị trấn Tứ Hạ ngày ấy cũng chỉ lưa thưa vài chục ngôi nhà và dăm ba hàng quán cũ kỷ bên đường quốc lộ. Con sông Bồ chảy qua thị trấn tôi đã được nghe tên, nhưng chưa nhìn ngắm, chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp của nó. Bởi muốn nhìn hết vẻ đẹp đó thì phải kỳ công để tìm được cái bến, nhưng lại bị cây và cỏ dại che khuất hai bên bờ, không sao nhìn rõ hết vẻ đẹp của dòng sông.

Giờ những điều đó đã về với ký ức của 20 năm trước. Con sông bây giờ đẹp hẳn ra, con đường chạy dọc sông Bồ uốn lượn quanh dòng sông và cầu Tứ Phú bắc qua sông, điểm nối thông thương giữa Hương Trà và Quảng Điền, và là nơi thưởng ngoạn, ngắm nhìn cảnh đẹp trù phú thơ mộng của sông Bồ. Không phải dùng xe, tôi tản bộ dọc theo sông và đi lên cầu, đứng trên cao nhìn xuống trông con sông Bồ mới đẹp làm sao, nhìn thị Trấn Tứ Hạ tấp nập người và dòng xe cuồn cuộn, những ngôi nhà mới mọc lên sau những con đường được xây dựng theo quy hoạch của huyện Hương Trà. Nhìn mà bỗng lại miên man nhớ về thị trấn Tứ Hạ, cái thị trấn của một thời nhỏ bé đến tội nghiệp chứ không phải khang trang, quy mô như bây giờ.

Hương Trà là huyện nằm cửa ngõ phía bắc thành phố Huế, được bao bọc bởi hai con sông nổi tiếng của xứ thần kinh, sông Bồ và sông Hương. Hai con sông này nối liền từ núi rừng Trường Sơn và xuôi về phá Tam Giang tạo nên diện mạo, một nét văn hóa của cư dân hai bên sông và hình thành đôi trục giao thông đường thủy, tạo điều kiện thuận lợi cho sự thông thương, phát triển kinh tế xã hội, văn hóa của Hương Trà. Đây một thời từng là một trong những trung tâm chính trị, văn hóa của Việt Nam qua nhiều thế kỷ.

Từ thời tiền sử, những người Việt cổ sinh sống trên vùng đất này đã biết đẽo những chiếc rìu bằng đá, biết làm nên những chiếc trống đồng Phù Lưu, đó là những dấu tích của nền văn hóa Cồn Bàu, Sa Huỳnh có niên đại trên dưới 2000 năm mà các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở thôn Phụ Ổ, xã Hương Chữ. Thời vua Trần Anh Tông (năm Đinh Tỵ - 1307), Hương Trà thuộc địa phận Hóa Châu của xứ Thuận Hóa, vốn được mang tên Kim Trà. Đến năm 1558, Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ Thuận Hóa đã đổi tên Kim Trà thành Hương Trà đến ngày hôm nay.

Hương Trà, vùng đất đã sinh ra nhiều người con yêu nước, nhiều tấm gương trung nghĩa là niềm tự hào của nhân dân cả nước. Điển hình như Đặng Huy Cát, người đã cùng Tôn Thất Thuyết tổ chức dân binh và căn cứ địa ở Cồn Phân Trận, Văn Xá để đánh Pháp và bị kết án “trảm giam hậu”, sau đó ông chết trong nhà lao. Con trai của ông là Đặng Hữu Phổ, cùng cha tham gia chống Pháp với Tôn Thất Thuyết, sau cuộc nổi dậy không thành, Đặng Hữu Phổ bị Pháp xử chém ở bên đò Quai Vạc vào năm 1885; rồi cháu ông Đặng Hữu Hoài, người đã tham gia cuộc nổi dậy của Thái Phiên và Trần Cao Vân phò vua Duy Tân chống Pháp vào năm 1916.

Cuộc nổi dậy bất thành, Đặng Hữu Hoài cùng vua Duy Tân chạy về đầm Hà Trung thì bị quân Pháp bắt và đày ra Côn Đảo. Người cùng làng với Đặng Huy Cát, cùng làm quan dưới thời vua Tự Đức, người được đánh giá là “nhân tài làm rạng rỡ nước non”, đó là Đặng Huy Trứ. Ông là nhà quân sự, nhà ngoại giao giỏi, nhà giáo dục, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà thơ lớn, là người sáng lập nghề nhiếp ảnh đầu tiên của Việt Nam và là người tiên phong trong chống tham nhũng dưới thời vua Tự Đức. Đến những năm 1920, nhiều người con của Hương Trà đã tham gia các tổ chức tiền thân của Đảng như: Nguyễn Khánh Toàn, Bùi Công Trừng, Hà Thế Hạnh...

Và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ cứu nước, nhiều tên đất, tên làng, tên núi, tên sông của Hương Trà còn vang chiến công hiển hách trong lịch sử chống giặc ngoại xâm như chiến khu Dương Hòa, Khe Điên, địa đạo Khe Trái, Hòn Vượng, Trò Trái, Mõm Xanh, Lại Bằng, La Chữ, Thanh Lương, Văn Xá, Tứ Hạ...

Hương Trà là nơi có nhiều danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng, nơi được các vua chúa nhà Nguyễn chọn để xây lăng mộ, đền đài như lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, Văn miếu triều Nguyễn, điện Hòn Chén, phố cổ Bao Vinh và nhiều ngọn núi đẹp góp phần tô thêm danh thắng kinh thành Huế như núi Duệ, núi Thương, núi Kim Phụng...

Ngoài ra, vùng đất này còn có nhiều sản vật từ vườn, nhiều làng nghề truyền thống đã góp phần xây dựng nên vùng văn hóa xứ Huế như quýt Hương Cần, thanh trà Lại Bằng, củ kiệu La Chữ, chè Hải Cát... và các sản phẩm từ bàn tay tài hoa của những người thợ thủ công như bún Vân Cù, cốm nếp An Thuận, nón lá Triều Sơn, bột gạo La khê, gạch ngói Nam Thanh, khảm xà cừ Bao Vinh...

Trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, nhân dân Hương Trà chịu nhiều gian khổ, hy sinh để tham gia kháng chiến, đánh giặc giữ làng, giữ nước. Sau ngày đất nước thống nhất, Hương Trà đã thực hiện công cuộc đổi mới, từng bước phát triển kinh tế, xây dựng nền văn hóa tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc, từng bước hội nhập quốc tế cùng tỉnh và cả nước.

Trong phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, Hương Trà có điều kiện thuận lợi là nằm trên trục giao thông xuyên Á, tuyến hành lang kinh tế Đông Tây lớn nhất của tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng và nối Lào, Đông Bắc Thái Lan qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo với cảng Chân Mây - Lăng Cô và Đà Nẵng, đồng thời nằm trên trục phát triển đô thị chủ đạo của tỉnh. Vì vậy trong phát triển đô thị, tỉnh nhà đã xác định Hương Trà là một thị xã trong chùm đô thị vệ tinh, cùng với thành phố Huế, Hương Thủy, Phú Vang tạo thành các đô thị động lực của Thừa Thiên Huế.

Với tổng diện tích tự nhiên 52,205.2 ha, tổng dân số 113,000 người, mật độ dân số khoảng 215 người/km2. Trong 5 năm, từ 2005 - 2010, nền kinh tế Hương Trà đã tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, tốc độ tăng bình quân đạt 17,7% năm; tổng giá trị sản xuất tăng 2,56 lần; thu nhập bình quân đầu người 1,170USD/năm, tăng gấp 2 lần so với năm 2005(2); thu ngân sách năm 2010 là 54,741 tỷ đồng, đạt 135% so với dự toán tỉnh giao(3). Hương Trà đang từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, văn hóa - xã hội tiếp tục được phát triển.

Trong giai đoạn 2005 - 2010, sự phát triển về kinh tế xã hội đã đem lại những cú hích quan trọng trong việc xây dựng và chỉnh trang diện mạo, cảnh quan của Hương Trà. Với những điều kiện thuận lợi, và từ thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng thị trấn Tứ Hạ, các vùng miền trên địa bàn, Hương Trà đã định hướng kế hoạch phát triển đô thị đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 với nhiều mục tiêu. Trong đó tập trung xây dựng huyện Hương Trà trở thành thị xã với vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội với tỉnh, khu vực và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung mà Tứ Hạ mở rộng là đô thị hạt nhân.

Cùng với thị trấn Tứ Hạ, xã Bình Điền cũng sẽ được xây dựng trở thành thị trấn và là trung tâm kinh tế, văn hóa, dịch vụ của các xã miền núi, là đầu mối giao thông, giao lưu trong huyện, tỉnh; đóng vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội cho các xã ngoại thị khu vực miền núi. Ngoài ra, Hương Trà còn đề ra mục tiêu tăng cường xây dựng và phát triển đô thị hóa các xã vùng ngoại thị khu vực đồng bằng như Hương An, Hương Chữ, Hương Vinh, các xã miền biển và đầm phá nhằm tạo các cụm đô thị vệ tinh thuộc đô thị Hương Trà.

Với mục tiêu đó, huyện Hương Trà đã đưa ra các chỉ tiêu trong giai đoạn 2010 - 2015 như sau: 1. Về kinh tế - xã hội: Tổng thu ngân sách đến 2015 đạt 90-100 tỷ đồng; Thu nhập bình quân đầu người đạt 2,300- 2,400USD; Tăng trưởng kinh tế đạt 20%; Tỷ lệ hộ nghèo dưới 4%. 2. Về phát triển đô thị: Dân số toàn đô thị đến năm 2015 là 120,000 - 150.000 người; Tỷ lệ đô thị hóa đạt 60%; Tỷ lệ phi nông nghiệp nội thị đạt trến 75%...

Để đảm bảo nguồn vốn thực hiện dự án phát triển kinh tế, đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật, cùng với nguồn vốn đầu tư của tỉnh và Trung ương đầu tư cho đô thị, Hương Trà tập trung huy động mọi nguồn vốn từ ngân sách và nhân dân tự đóng góp, trong đó phát huy tối đa nguồn lực của địa phương, đẩy mạnh chương trình đổi đất lấy cơ sở hạ tầng. Bên cạnh, Huyện cũng đang xây dựng cơ chế thu hút đầu tư, huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế theo hướng đầu tư và phát triển đô thị.

Tổng quan các dự án đầu tư giao thông, cấp nước, hạ tầng văn hóa xã hội, công nghiệp, điện, sản xuất dịch vụ, các dự án khu đô thị mới... trên toàn địa bàn huyện Hương Trà giai đoạn 2011 - 2012 trong đề án phát triển với tổng số tiền từ các nguồn vốn đầu tư là 1,526.959 tỷ đồng. Giai đoạn 2013 - 2015 với tổng số tiền đầu tư là 3,826.4 tỷ đồng; trong đó nguồn ngân sách của tỉnh và Trung ương là 755.4 tỷ đồng; ngân sách địa phương 8.0 tỷ đồng; từ nguồn viện trợ, doanh nghiệp và nhân dân là 3,063 tỷ đồng(4).

Rồi đây, khi những con số, những định hướng, kế hoạch của huyện Hương Trà trở thành hiện thực, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế, xã hội được xây dựng trong mục tiêu phát triển đô thị sẽ làm nên một diện mạo Hương Trà hoàn toàn khác. Nhiều vùng đất sẽ được chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang đô thị công nghiệp và những người quen làm nông nghiệp được đào tạo nghề giờ chuyển sang mua bán, dịch vụ. Các khu phố của trung tâm Tứ Hạ được quy hoạch theo từng nhóm ngành.

Những vùng ven đô có đất màu mỡ được quy hoạch cho những vùng sản xuất nông nghiệp theo hướng sinh thái, vùng rau xanh an toàn, hoa cao cấp và cây cảnh các loại sẽ được mở rộng và quy mô hơn. Trong tương lai, Tứ Hạ sẽ là khu là đô thị trung tâm với hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng đô thị mở, xanh - sạch, văn minh, hiện đại và chỉ tiêu phấn đấu là khu đô thị loại IV của thị xã Hương Trà trong tương lai.

Cùng với trung tâm Tứ Hạ, các xã vùng đồng bằng như Hương An, Hương Vinh, Hương Hồ sẽ được mở rộng, đầu tư chỉnh trang đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa. Xã Hương Chữ sẽ phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, vùng lúa cao sản, vùng lạc thâm canh, và là vành đai rau xanh cùng với việc trồng hoa quả, chăn nuôi đa dạng, gắn với công nghiệp chế biến cung cấp thực phẩm cho vùng nội thị và thành phố Huế. Hương Trà cũng đã quy hoạch đối với các vùng ven biển và đầm phá.

Các vùng này lấy kinh tế thủy sản làm trọng tâm gắn kết với sản xuất nông - lâm- ngư nghiệp và các ngành nghề khác. Đặc biệt, xã Hải Dương được chú trọng, tập trung ngành mũi nhọn đó là cụm công nghiệp, làng nghề chế biến hải sản. Các vùng ven biển, đầm phá được đầu tư xây dựng phát triển với thế mạnh du lịch của vùng cùng các điểm du lịch bờ biển, khu rừng ngập mặn Rú Chá. Bên cạnh các vùng kinh tế đồng bằng, vùng đầm phá, ven biển... vùng đồi núi có lợi thế về đất đai cũng được đầu tư phát triển nông- lâm- nghiệp theo hướng trồng rừng kinh tế, thâm canh cây công nghiệp xuất khẩu cao su, hồ tiêu, cây ăn quả.

Gắn việc trồng rừng mới, trồng cây lâu năm bảo vệ, chăm sóc độ che phủ rừng và môi trường sinh thái. Cùng với chăn nuôi gia súc, gia cầm, kinh tế trang trại tại vùng miền núi, Hương Trà tiếp tục đẩy mạnh đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp Bình Điền và các cơ sở dọc theo Quốc lộ 49, đẩy mạnh quá trình đô thị hóa của vùng. Trong đó việc quy hoạch chung và lập đề án thành lập thị trấn Bình Điền và quy hoạch khu dân cư trung tâm của các xã.

Bây giờ, hình ảnh về một Hương Trà của những năm cuối cùng của thế kỷ trước và đến những năm 2000 - 2002 của thế kỷ XXI này, từ nhà ở dân sinh đến cảnh quan đô thị với cảnh nhếch nhác, thoáng chút tiêu điều ấy đã không còn. Trong tôi vẫn còn nỗi ám ảnh ngày xưa ấy, là nỗi sợ hãi mỗi lần đi trên đoạn đường từ thị trấn Tứ Hạ vào thành phố Huế, lòng luôn bất an vì những nguy cơ tại nạn rình rập, như đang rập rình từng phút từng giây. Ngày đó, hệ thống đèn chiếu sáng trên đoạn đường này chưa có, đường xá thì nhỏ hẹp với những lổm chổm ổ gà, ổ voi.

Thế nhưng, chỉ trong vài năm trở lại đây, Hương Trà đã thay da đổi thịt, những con đường mới được mở ra với quy hoạch hoàn chỉnh cùng những ngôi nhà mới với những cụm công nghiệp đang dần hình thành. Đặc biệt, dòng sông Bồ thơ mộng đã được trả lại vẻ đẹp vốn có của nó khi con đường được mở ra chạy dọc theo dòng sông và một khu phố mới xuất hiện cùng những hàng cây xanh soi bóng xuống dòng xanh. Tôi đang đi trên con đường này, đang hình dung về một khu đô thị mới Tứ Hạ. Trước mắt tôi, thị xã Hương Trà trong tương lai đang được xây dựng với những con đường rộng thênh thang qua đi ký ức của một thời chật hẹp. Xa xa những những khu công nghiệp, những cụm công nghiệp với các nghề truyền thống của vùng đất có văn hóa lâu đời bên dòng sông Bồ được sống lại.

Với những điều xác tín đã được xây dựng trong Đề án phát triển đô thị giai đoạn 2010- 2015 và định hướng đến năm 2020 của Ủy ban nhân dân huyện Hương Trà; cùng với sự quyết tâm của các cấp, của cán bộ và nhân dân, chắc chắn một ngày không xa Hương Trà sẽ trở thành một thị xã lớn mạnh, phát triển trong chùm đô thị vệ tinh của Thừa Thiên Huế như thành phố Huế, Hương Thủy, Phú Vang. Nhiều người cũng như tôi đang chờ ngày ấy và mong được trở lại Hương Trà để ngồi bên con sông Bồ viết bài thơ còn dang dở của những ngày sống ở Hương Trà, những ngày của riêng sông.

Du lịch, GO! - Theo Tường Thi (Tạp chí Sông Hương)

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống