Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Sunday, 30 September 2012

Thu Xà trước kia nằm trên đất làng Tiên Sà, tổng Nghĩa Hà, phủ Tư Nghĩa xưa vốn là khu phố cổ buôn bán sầm uất, tấp nập, chỉ đứng sau Hội An. 

< Các em nhỏ thôn Thu Xà tập múa lân sư để chuẩn bị cho Tết Trung thu.

Dọc hai bên dòng sông Đào là phố xá, nơi sinh sống chủ yếu của người Hoa và nghề làm lân sư rồng cũng ra đời từ đó. Vào những năm 1940, khi cửa biển hẹp dần, sông Đào bị bồi lấp, hoạt động buôn bán bị ngưng trệ, dòng người di cư lên phố cổ Hội An ngày càng nhiều nên nghề làm đầu lân ở đây cũng dần mai một bớt.

< Anh Nguyễn Đức Dân, 36 tuổi, tiến hành công đoạn gắn sừng cho đầu lân.

Vậy nhưng tết Trung thu gần kề và chuẩn bị cho những ngày tết cũng là lúc các gia đình làm đầu lân sư ở thôn Thu Xà, xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi trở nên tất bật.

< Gia đình anh Nguyễn Đức Toàn khẩn trương hoàn thiện đơn đặt hàng đầu lân sư mùa Trung thu tại nhà.

“So với Trung thu năm trước, số lượng đầu lân sư tiêu thụ mạnh và được ưa chuộng rộng rãi hơn”, anh Nguyễn Đức Toàn, thợ làm đầu lân sư có tiếng ở Nghĩa Hòa, cho biết. Thuở còn lên chín lên mười, anh Toàn đã học nghề từ bố - ông Nguyễn Tô, 74 tuổi, một người gốc phố cổ Thu Xà xưa. Thấm thoắt đã hơn 30 năm.

< Công đoạn lên khung sườn cho đầu lân sư.

Mùa Trung thu năm nay đại gia đình của anh được đặt hàng làm hơn 1.000 đầu lân sư để cung cấp cho các thị trường dọc các tỉnh miền Trung và Tây nguyên.

< Chọn lọc giấy báo cũ để đúc khuôn làm đầu lân.

Anh Toàn chia sẻ: thị hiếu chơi lân sư ngày càng đổi khác. Ngày xưa, đầu lân - sư tử quét sơn rất hút hàng nhưng vài năm trở lại đây sản phẩm này đòi hỏi sự công phu, tỉ mỉ hơn như dán giấy thiếc, vải kim sa, lông vũ, mắt lân…

< Đầu lân sau khi đúc từ khuôn sẽ được đem phơi khô để tạo thành hình.

Đó chính là điểm khác biệt của sản phẩm đầu lân sư Nghĩa Hòa so với các tỉnh khác.

< Dán họa tiết trang trí cho đầu lân thêm rực rỡ.

Thông thường để hoàn thiện một chiếc đầu lân - sư tử phải mất 2-3 ngày với 4 công đoạn: đúc khuôn giấy hình đầu lân; dán giấy thiếc hay vải kim sa; trang trí các chi tiết như mắt lân, đường viền và cuối cùng trang trí lông vũ.

< Tranh thủ ngày cuối tuần, các em học sinh ở xã Nghĩa Hòa làm râu cho lân, sư tử để kiếm thêm thu nhập cho gia đình.

Từ thực tế đó việc sản xuất đầu lân sư đã có một dây chuyền chuyên môn hóa với nhiều nhân công phụ trách từng công đoạn.

< Niềm vui với chiếc đầu lân mới.

Đa số nhân công ở Nghĩa Hòa còn rất trẻ (10-25 tuổi), làm theo thời vụ với mức tiền công dao động từ 500.000-3 triệu đồng/người. Theo thợ làm đầu lân sư Nguyễn Đức Dân (36 tuổi): “Thời gian cao điểm làm đầu lân sư bắt đầu từ tháng bảy âm lịch”. Giá mỗi sản phẩm dao động từ 100.000-1,5 triệu đồng/đầu lân, sư tử.

Có thể nói sản phẩm đầu lân sư truyền thống ngày càng được ưa chuộng và tiêu thụ rộng rãi vào dịp Trung thu thật sự là một tín hiệu vui, bất chấp làn sóng đồ chơi Trung Quốc đang ồ ạt thâm nhập Việt Nam.

Du lịch, GO! - Theo TTO
Việt Nam có 4.000 năm văn hiến, các dân tộc cùng chung sống có nhu cầu tự nhiên là nối kết nhau lại để chống chọi với thiên tai, giặc giã, trở thành một cộng đồng bền chặt - đại gia đình các dân tộc Việt Nam, cùng nhau dựng nước và giữ nước.

Truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, của người Thái, người Mường, người Ba Na, Ê Đê... đều mô tả người Kinh, người Thượng là anh em một nhà, đặc biệt là truyền thuyết mẹ Âu Cơ đẻ trăm trứng, đều có chung một mẹ, đều sinh từ một bọc, đều là đồng bào.

Với điều kiện địa lý tự nhiên (địa mạo, đất đai, khí hậu...) khác nhau, các dân tộc đã tìm ra phương thức ứng xử thiên nhiên khác nhau, vượt lên mọi trở ngại thích ứng với điều kiện tự nhiên để sản xuất, tồn tại và phát triển của từng dân tộc.

Một số người cho rằng nguồn gốc của các dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ các dân tộc cổ đại sinh sống trên lục địa Trung Hoa, hoặc cao nguyên Tây Tạng, một số khác cho rằng nguồn gốc chính từ người Việt bản địa. Nhưng căn cứ vào các kết quả nghiên cứu gần đây, xem xét sự hình thành các dân tộc Việt Nam trong sự hình thành các dân tộc khác trong khu vực thì có thể nói rằng tất cả các dân tộc Việt Nam đều có cùng một nguồn gốc, đó là chủng Cổ Mã Lai.

Cả nước Việt Nam hiện có 54 dân tộc anh em. Trong số đó có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thuở ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác lần lượt di cư đến. Do vị trí nước Việt Nam giao lưu hết sức thuận lợi nên nhiều dân tộc ở các nước xung quanh vì nhiều nguyên nhân đã di cư từ Bắc xuống, từ Nam lên, từ Tây sang, chủ yếu từ Bắc xuống, rồi định cư trên lãnh thổ nước này.

Sống trên mảnh đất Đông Dương - nơi cửa ngõ nối Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo, Việt Nam là nơi giao lưu của các nền văn hóa trong khu vực. Ở đây có đủ 3 ngữ hệ lớn trong khu vực Đông Nam Á, ngữ hệ Nam đảo và ngữ hệ Hán - Tạng. Tiếng nói của các dân tộc Việt Nam thuộc 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau.

Nhóm Việt - Mường có 4 dân tộc là: Chứt, Kinh, Mường, Thổ.
Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.
Nhóm Môn - Khmer có 21 dân tộc là: Ba na, Brâu, Bru-Vân kiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Cơ-tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ mú, Mạ, Mảng, M'Nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng.
Nhóm Mông - Dao có 3 dân tộc là: Dao, Mông, Pà thẻn.
Nhóm Kađai có 4 dân tộc là: Cờ lao, La chí, La ha, Pu péo.
Nhóm Nam Đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-rai, Ra-glai.
Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán dìu.
Nhóm Tạng có 6 dân tộc là: Cống, Hà Nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá, Si la.

< Đại diện 54 dân tộc anh em dưới cột mốc chủ quyền trên đảo Song Tử Tây.

Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau, song do các dân tộc sống đan xen với nhau nên một dân tộc thường biết tiếng các dân tộc có quan hệ hàng ngày và dù sống xen kẽ với nhau, giao lưu văn hóa với nhau, nhưng các dân tộc vẫn lưu giữ được bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình.

1. Dân tộc Ba Na hay còn gọi là Tơ Lô, Krem, Roh, Con Kde, ALa Công, Krăng. Ðịa bàn cư trú: Kon Tum, Bình Ðịnh, Phú Yên.
2. Dân tộc Bố Y hay Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn, Pu Nà. Ðịa bàn cư trú: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang.

3. Dân tộc Brâu hay Brạo. Ðịa bàn cư trú: Làng Ðăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
4. Dân tộc Bru - Vân Kiều hay Trì, Khùa, Ma - Coong. Ðịa bàn cư trú: Tập trung ở miền núi các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế.
5. Dân tộc Chăm hay Chàm, Chiêm Thành, Hroi. Ðịa bàn cư trú: Ninh Thuận và một phần nhỏ ở An Giang, Tây Ninh, Ðồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Nam Bình Thuận và Tây Bắc Phú Yên...
6. Dân tộc Chơ Ro hay Ðơ Ro, Châu Ro. Ðịa bàn cư trú: Phần lớn cư trú ở tỉnh Ðồng Nai, một số ít ở tỉnh Bình Thuận.

7. Dân tộc Chu Ru hay Cho Ru, Ru. Ðịa bàn cư trú: Phần lớn ở Ðơn Dương (Lâm Ðồng), số ít ở Bình Thuận.
8. Dân tộc Chứt hay Rục, Sách, Mã Liềng, Tu Vang, Pa Leng, Xe Lang, Tơ Hung, Cha Cú, Tắc Cực, U Mo, Xá Lá Vàng. Ðịa bàn cư trú: Sống ở huyện Minh Hoá và Tuyên Hóa (Quảng Bình).
9. Dân tộc Co hay Cor, Col, Cùa, Trầu. Ðịa bàn cư trú: Huyện Bắc Trà My, Nam Trà My (Quảng Nam), huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi).
10. Dân tộc Cống hay Xắm Khống, Mâng Nhé, Xá Xong. Địa bàn cư trú: Huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, ven sông Ðà
11. Dân tộc Cơ Ho hay Xrê, Nộp, Cơ Lon, Chil, Lát, Tring. Ðịa bàn cư trú: Cao nguyên Di Linh (Lâm Đồng).
12. Dân tộc Cờ Lao hay Ke Lao. Ðịa bàn cư trú: Hà Giang.

13. Dân tộc Cơ Tu hay Ca Tu, Gao, Hạ, Phương, Ca Tang. Ðịa bàn cư trú: Huyện Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang (Quảng Nam), huyện A Lưới, huyện Phú Lộc (Thừa Thiên - Huế).
14. Dân tộc Dao hay Mán, Ðông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Ðại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn và Sơn Ðầu. Ðịa bàn cư trú: Biên giới Việt - Trung, Việt - Lào, một số tỉnh Trung Du và ven biển Bắc Bộ.
15. Dân tộc Ê Đê hay Ra Đê, Ðê, Kpa, Adham, Krung, Ktal, Dlieruê, Blô, Epan, Mdhur, Bích. Ðịa bàn cư trú: Ðăk Lăk, phía Nam tỉnh Gia Lai, phía Tây của 2 tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên.
16. Dân tộc Giáy hay Nhắng, Dẳng, Pâu Thìn, Pu Nà, Cùi Chu, Xạ. Ðịa bàn cư trú: Tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu và Cao Bằng.
17. Dân tộc Gia Rai hay Giơ Rai, Tơ Buăn, Hơ Bau, Hdrung, Chor. Ðịa bàn cư trú: Gia Lai, Kon Tum và Ðăk Lăk.
18. Dân tộc Giẻ Triêng hay Dgích, Ta Reh, Giảng Rây, Pin, Triềng, Treng Ta Liêng, Ve, La Ve, Bnoong, Ca Tang. Ðịa bàn cư trú: Kon Tum và miền núi tỉnh Quảng Ninh.

19. Dân tộc Hà Nhì hay U Ní, Xá U Ní. Ðịa bàn cư trú: Lai Châu, Lào Cai.
20. Dân tộc Hoa hay Hán. Ðịa bàn cư trú: Trong cả nước.
21. Dân tộc Hrê hay Chăm Rê, Chom Krẹ, Lùy. Ðịa bàn cư trú: Phía tây tỉnh Quảng Ngãi và Bình Ðịnh.
22. Dân tộc Kháng hay Xá Khao, Xá Xúa, Xá Ðón, Xá Dâng, Xá Hộc, Xá Ái, Xá Bung, Quảng Lâm. Ðịa bàn cư trú: Sơn La, Lai Châu
23. Dân tộc Khmer (Việt gốc Miên, Khmer Krôm). Ðịa bàn cư trú: Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang.
24. Dân tộc Khơ Mú hay Xá Cẩu, Mứn Xen, Pu Thênh, Tềnh, Tày Hạy. Ðịa bàn cư trú: Nghệ An, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hoá, Yên Bái.

25. Dân tộc Kinh (Việt). Ðịa bàn cư trú: Khắp các tỉnh, đông nhất ở vùng đồng bằng và thành thị.
26. Dân tộc La Chí hay Cù Tê, La Quả. Ðịa bàn cư trú: Hà Giang, Lào Cai.
27. Dân tộc La Ha hay Xá Khắc, Phlắc, Khlá. Ðịa bàn cư trú: Sơn La, Lào Cai.
28. Dân tộc La Hủ hay Xá Lá Vàng, Cò Xung, Khù Xung, Khả Quy. Ðịa bàn cư trú: Huyện Mường Tè (Lai Châu).
29. Dân tộc Lào hay Lào Bốc, Lào Nọi. Ðịa bàn cư trú: Huyện Ðiện Biên (Điện Biên), huyện Phong Thổ, Than Uyên (Lai Châu), huyện Sông Mã (Sơn La).
30. Dân tộc Lô Lô (Mùn Di, Di... Có hai nhóm: Lô Lô Hoa và Lô Lô Đen). Địa bàn cư trú: Phần lớn sống ở Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai.

31. Dân tộc Lự hay Lữ, Nhuồn, Duồn. Ðịa bàn cư trú: Huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
32. Dân tộc Mạ hay Châu Mạ, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung, Mạ Ngắn. Ðịa bàn cư trú: Lâm Ðồng.
33. Dân tộc Mảng hay Mảng Ư, Xá Lá Vàng. Ðịa bàn cư trú: Lai Châu (Sìn Hồ, Mường Tè, Phong Thổ, Mường Lay).
34. Dân tộc Mông (Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Mán). Ðịa bàn cư trú: Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An
35. Dân tộc M'Nông (Bru Đang, Preh, Ger, Nong, Prêng, Rlăm, Kuyênh, Chil Bu No, nhóm M'Nông Bru Dâng). Ðịa bàn cư trú: Ðăk Lăk, Lâm Ðồng và Bình Phước
36. Dân tộc Mường (Mol, Mual, Moi, Moi Bi, Au Tá, Ao Tá). Ðịa bàn cư trú: Cư trú ở nhiều tỉnh phía Bắc, tập trung đông ở Hoà Bình và miền núi Thanh Hóa. Sống định canh định cư nơi có nhiều đất sản xuất, gần đường giao thông, thuận tiện cho việc làm ăn.

37. Dân tộc Ngái (Ngái Hắc Cá, Lầu Mần, Hẹ, Sín, Ðàn, Lê). Ðịa bàn cư trú: Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên.
38. Dân tộc Nùng (Xuồng, Giang, Nùng An, Nùng Lòi, Phần Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Quý Rịn, Nùng Dín, Khen Lài). Ðịa bàn cư trú: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Tuyên Quang.
39. Dân tộc Ơ Đu hay Tày Hạt. Ðịa bàn cư trú: Nghệ An.
40. Dân tộc Pà Thẻn (Pà Hưng, Tống). Ðịa bàn cư trú: Hà Giang, Tuyên Quang.
41. Dân tộc Phù Lá (Xá Phó, Bồ Khô Pạ, Mú Xí Pạ, Phổ, Va Xơ Lao, Pu Dang). Ðịa bàn cư trú: Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, đông nhất ở Lào Cai.
42. Dân tộc Pu Péo (Ka Beo, Pen Ti Lô Lô). Ðịa bàn cư trú: Hà Giang.

43. Dân tộc Ra Glai (Ra Glay, Hai, Noa Na, La Vang). Ðịa bàn cư trú: Phía Nam tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận.
44. Dân tộc Rơ Măm. Ðịa bàn cư trú: làng Le, xã Morai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.
45. Dân tộc Sán Chay (Cao Lan, Sán Chỉ, Mán Cao Lan, Hờn Bận). Ðịa bàn cư trú:Tuyên Quang, Bắc Giang, Quảng Ninh, Yên Bái, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc.
46. Dân tộc Sán Dìu (Sán Déo, Trại, Trại Ðất, Mán quần cộc). Ðịa bàn cư trú: Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang.
47. Dân tộc Si La (Cú Dé Xử, Khà Pé). Ðịa bàn cư trú: Lai Châu.
48. Dân tộc Tày (Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí). Ðịa bàn cư trú: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang.

49. Dân tộc Tà Ôi (Tôi Ôi, Pa Cô, Ba Hi, Pa Hi). Ðịa bàn cư trú: Huyện A Lưới (tỉnh Thừa Thiên - Huế), huyện Hương Hoá (tỉnh Quảng Trị).
50. Dân tộc Thái (Tày, Táy Ðăm, Táy Khào, Tày Mười, Tày Thanh, Hàng Tổng, Pu Thay, Thờ Ðà Bắc). Ðịa bàn cư trú: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Nghệ An.
51. Dân tộc Thổ (Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Tày Poọng, Ðan Lai, Ly Hà). Ðịa bàn cư trú: phía Tây tỉnh Nghệ An.
52. Dân tộc Xinh Mun (Puộc, Pụa). Ðịa bàn cư trú: Vùng biên giới Việt Lào thuộc Sơn La, Lai Châu.
53. Dân tộc Xơ Đăng (Xơ Đeng, Cà Dong, Tơ Dra, Hđang, Mơ Nâm, Hà Lăng, Ka Râng, Con Lan, Bri La Teng). Ðịa bàn cư trú: Kon Tum, Quảng Nam, Ðà Nẵng và Quảng Ngãi.
54. Dân tộc Xtiêng (Xa Ðiêng). Ðịa bàn cư trú: Bốn huyện phía bắc tỉnh Bình Dương, một phần ở Ðồng Nai, Tây Ninh.

Du lịch, GO! - Theo NTO, internet

Saturday, 29 September 2012

Đến đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), ngoài ngắm cảnh đẹp nơi biển đảo với nhiều di tích nổi tiếng, chúng ta còn được thưởng thức nhiều món ăn ngon mà trong đất liền không dễ tìm thấy. Có thể kể đến một số món như: mực tươi, nhum biển, rau bồng bềnh, ốc, các loại cá - trong đó nổi tiếng ngon nhất là cá tà ma.

Tà ma là một loại cá sống ở biển, da có vảy màu nâu đen, thân dẹt, hình giống như con cá rô phi nước ngọt nhưng to hơn. Theo người dân ở đảo, sở dĩ loài cá này có tên tà ma là do chúng sống chủ yếu ở các gành rạn, rất lanh khôn, khó đánh bắt, nên dân gian gọi như vậy chứ không thể giải thích cặn kẽ được.

Ăn cá tà ma tùy theo mùa. Để hợp khẩu vị, mùa đông người dân ở đây thường dùng món nướng. Mùa hè nắng nóng thì nấu canh hẹ, canh chua, nấu lẩu, cháo.

Hôm đó, buổi chiều vừa ngấp nghé, trời còn nóng nên chúng tôi chọn dùng món cá tà ma nấu canh chua lá giang. Cá được làm sạch, nạo bỏ hết vảy, cắt thành từng khúc sắp nguyên hình lên đĩa. Lá giang chọn sẵn phần non một đĩa to, một nồi nước đun sôi trên bếp ga mini, có nhiều gia vị đính kèm như thơm (dứa), me, một chén muối ớt...

Khi nước trên bàn đã sôi, thả cá vào nồi đậy nắp lại, đợi khoảng 5 phút nước sôi đều rồi mở nắp, vò lá giang đã chuẩn bị bỏ vào. Mười phút sau, khi cá đã chín, nêm thêm các gia vị đã chuẩn bị sẵn, là đã có một nồi canh chua ngon lành bốc khói.

Canh chua cá tà ma tỏa mùi thơm dịu. Hương cá hòa quyện hương lá giang theo làn gió nồm bay khắp quán làm những khách bàn bên cũng nôn nao dạ dày. Thịt cá chín chuyển từ màu trắng đỏ sang màu trắng, săn chắc, trên nồi nước có những váng mỡ cá liu riu...

Ăn cá tà ma ta cảm nhận được cái dai, ngọt của thịt cá. Đặc biệt phần lườn được xem là chỗ ngon hiếm, ai cũng tranh thủ gắp một ít để thưởng thức vị béo rất riêng. Có thể ăn cá tà ma nóng hôi hổi trên bếp, vừa thổi vừa ăn, vừa húp; cũng có thể gắp phần thịt cá để ra riêng một cái đĩa dầm nước mắm cá cơm nguyên chất cho thấm rồi ăn, sẽ đậm đà hơn. Ngoài ra, canh chua cá tà ma có thể ăn kèm với bún tươi thay cơm. Thịt cá tươi thơm ngon nên nước canh chua cũng không kém phần hấp dẫn.

< Cá Tà Ma cũng có thể nướng trên bếp than.

Với du khách, những người được ăn cá tà ma đều xem là một thức ngon, không đụng hàng với bất kỳ loại cá nào trong đất liền. Với người dân Lý Sơn, họ luôn xem đây là món đặc sản quê hương dùng để mời khách, nhất là lâu lâu có dịp bạn bè thân thiết đến đảo.

Du lịch, GO! - Theo Tấn Trực (Thanhnien), internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống