Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Monday, 11 February 2013

Nếu Hà Nội nổi tiếng với cốm xanh làng Vòng, bánh cốm Hàng Than, thì làng Phong Hậu, xã An Định, Tuy An (Phú Yên) lại nức tiếng với bánh cốm trắng. Đây là thức quà dân dã, không thể thiếu vào dịp tết ở các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ.

< Ông Phạm Văn Chánh nhào bột với bỏng gạo làm bánh cốm dẻo.

Khác với cốm miền Bắc được làm từ lúa nếp non, còn nguyên màu xanh lá mạ, gói trong lá sen, ăn kèm với chuối tiêu trứng cuốc. Cốm Phong Hậu cũng được làm bằng lúa nếp, nhưng là nếp đã chín, uống với nước trà xanh.

Cốm Phong Hậu gồm có 5 loại cốm vắt, cốm bột, cốm dẻo (cốm gừng), cốm giòn và cốm bắp. Nhưng hiện nay do thị hiếu của thị trường, cốm bột và cốm dẻo được ưa chuộng hơn cả và người làng Phong Hậu chủ yếu chỉ làm hai loại cốm này.

< Nhào bỏng gạo với nước gừng.

Nguyên liệu làm cốm Phong Hậu trước đây đều từ các nguyên liệu có sẵn ở địa phương như gạo nếp, đường cát và các dụng cụ như thúng để trộn bột, cối chày giã bột, chảo nấu đường. Ngày nay để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng, nguyên liệu làm cốm cao cấp hơn từ gạo nếp cái hoa vàng, xay thành bột bằng máy.

Cốm bột thì được đóng miếng từ bột nếp với đường cát. Cốm dẻo làm phức tạp hơn khi người thợ phải cho gạo vào máy nổ, thắng đường chín  và cho ít nước chanh, gừng giã nhỏ bỏ vào trong lúc chảo đường đang sôi.

Theo ông Phạm Văn Chánh (53 tuổi), một trong những người làm cốm nhiều năm ở làng Phong Hậu thì nghề cốm ở làng đã có lịch sử trên 100 năm. Lúc đầu, làng cốm có tên Thiên Tự, sau này đổi thành Phong Hậu. Ông Chánh học làm cốm từ thuở lên 10, kế thừa nghề từ đời ông tổ Phạm Hùng, rồi truyền qua đời ông nội và bố ông.

< Đóng khuôn bánh cốm bột.

Theo kinh nghiệm của ông Chánh, mục đích của việc nặn chanh, bỏ gừng là làm cho cốm thơm, đường không bị khô. Sau đó, người thợ cốm đem trộn đều hỗn hợp trên trong một cái thúng, dùng đôi tay chà đến khi nào bột thật xốp thì cho vào khuôn in, hai tay đè thật mạnh trên nắp khuôn. Kế đó, người thợ để khuôn cách mặt đất, hai ngón tay cái đè nắp khuôn, miếng cốm tự rớt ra.

Họ dùng tay vuốt nhẹ bốn cạnh, để cho miếng cốm vuông, đẹp sau đó, bỏ vào bì. Công thức làm cốm thường theo tỷ lệ 1kg nếp trộng 2kg đường.

Làm cốm trắng tưởng chừng đơn giản, nhưng công phu là ở cách rang nếp và thắng đường. Rang khéo thì khi cho vào máy nổ, hạt nếp sẽ nở bung như cánh hoa bưởi, hoa nhài. Rang vụng sẽ bị vàng, cháy hoặc nở không đều, có hạt cúp. Đường thẳng chưa tới độ, miếng cốm chóng chảy nước. Quá tay một chút, cốm sẽ bị khê, đen và khét, mất đi mùi vị của hương nếp đồng quê.

< Những chiếc bánh cốm dẻo mới ra lò.

Làng Phong Hậu ngày nay chỉ còn khoảng 20 gia đình làm cốm thường xuyên, giảm đến mười phần so với cách đây chục năm. Tuy nhiên, mỗi mùa tết đến, số hộ làm cốm lại đông lên vì nhiều người đặt mua.

Giáp tết Quý Tỵ này, những hộ làm cốm ở Phong Hậu vẫn bận rộn với nghề để đáp ứng nhu cầu của khách. Như trường hợp gia đình ông Phạm Văn Chánh, một ngày làm ra 4.000 bánh cốm với 4 nhân công. Ông Chánh cho biết, mỗi tháng chỉ làm 15 ngày, cũng thu được vài chục triệu đồng.

Du lịch, GO! - Theo Cẩm Chi - Tiến Thành (TTO)
Cứ đến ngày 23 và 24 tháng chạp âm lịch, trên đất đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) - quê hương đội hùng binh Hoàng Sa - người dân địa phương lại tổ chức nghi thức truyền thống dựng nêu tại các tòa dinh miếu.

0g đêm 23 tháng chạp âm lịch. Âm Linh Tự - nơi thờ tự những bậc tiền nhân anh dũng hi sinh khi tự nguyện gia nhập đội hùng binh Hoàng Sa dong thuyền vươn ra Hoàng Sa, Trường Sa cắm mốc và bảo vệ chủ quyền từ hàng trăm năm trước - đã chật kín người. Cư dân đảo Lý Sơn tụ họp về đây để lo mọi vật tế lễ, chuẩn bị dựng cây nêu truyền thống ngày tết.


< Nghi thức dựng nêu, dựng cờ tại Bổn Lân, xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn lúc 24 giờ đêm 23 tháng chạp.

4g sáng 23 tháng chạp, cây nêu chính thức được dựng lên tại vị trí trước sân chính của Âm Linh Tự. Trên thân mỗi cây nêu có biểu tượng con chim công mà theo lý giải của các bậc cao niên ở Lý Sơn như cụ Trần Ngọc Thọ, người xã An Vĩnh, theo tín ngưỡng dân gian miền biển của vùng là để đuổi yêu, trừ ma.

“Biểu tượng con chim công được treo trên thân cây nêu với hi vọng xua đi những gì kém may mắn để cầu mong một năm mới tốt đẹp, vạn sự như ý, phò cho gia đình an cư lạc nghiệp. Bởi vậy nên thường gọi nhất điểu. Tết thì phải "dựng đu lên phướn". Tức trồng cây đu và lên cây nêu. Trước đây có cây đu nhưng giờ không còn trồng cây đu nhưng cây nêu thì phải có. Thiếu là tuyệt đối không được”, cụ Thọ giải thích thêm.

Từ 20 tháng chạp âm lịch trở đi, trên đảo Lý Sơn diễn ra tục dựng cây nêu. Nơi dựng nêu sớm nhất là ở lăng Lăng Tân, xã An Vĩnh - nơi thờ tự ngài đại tướng Nam Hải (theo cách gọi của ngư dân miền biển). Ở lăng Lăng Tân, cây nêu được dựng vào ngày 20 tháng chạp âm lịch vì đây là ngày kỵ của của “ông Nam Hải”. Sau đó, đến 0g sáng 24 tháng chạp, tất cả 24 tòa dinh miếu trên toàn đất đảo Lý Sơn mới bắt đầu đồng loạt dựng nêu.

Theo phân cấp, những dinh miếu nào lớn được dựng trước, phân cách thứ bậc hẳn hoi. Cây nêu dựng ở các dòng tộc trên đảo thường phải đến 29 tháng chạp âm lịch (nếu là tháng thiếu) và 30 tháng chạp âm lịch mới dựng.

Khi những cây nêu được dựng lên, trong các dinh miếu, đình làng thường xuyên diễn ra các lễ cúng theo phong tục của người Lý Sơn. Những người có uy tín nhất của làng đứng ra làm chủ lễ trong lễ tế. Đây là dịp để con cháu, dòng tộc tiền hiền, hậu hiền trên đảo tưởng nhớ bậc cha ông đã mãi mãi nằm lại giữa biển khơi trong hành trình dong thuyền vươn ra Hoàng Sa, Trường Sa cắm mốc và bảo vệ chủ quyền từ hàng trăm năm về trước nhân ngày tết cổ truyền dân tộc.

“Nghinh xuân - mộc điểu - thượng kỳ”. Theo cách giải thích ngắn gọi của người dân đất đảo thì mừng xuân thì dựng cây nêu và cây cờ. Song song với cây nêu thì còn một cây cờ, một lá cờ Tổ quốc và một lá cờ đại. Ông Trần Mười kể: “Từ xưa đến nay, tết cổ truyền phải dựng cây nêu này để cầu năm mới mọi người được bình an, sức khỏe và làm ăn tài lộc”.


< Hình tượng con chim công treo trên thân cây nêu cầu mong sự may mắn trong năm mới.

“Tết nào cũng làm nghi thức này. Không biết tục dựng nêu ngày tết này có từ bao giờ nhưng chỉ biết đã tồn tại trên đất đảo từ rất lâu. Thế hệ này nối tiếp thế hệ khác nên mãi mãi không mất đi”, cụ Võ Văn Hoàng nói.

Lễ cúng còn cầu nguyện cho một năm mới quốc thái dân an, nông đắc tài, ngư đắc lợi. Sau lễ cúng, người trong làng ngồi quanh các tòa dinh miếu cùng nhau bàn tính chuyện làm ăn sang năm mới. Việc hàn huyên ở đây thường kéo dài đến tận khi hạ cây nêu. Thường vào thời gian từ mùng 7 tết đến ngày 15 tháng giêng âm lịch.
Nét đẹp văn hóa ngày tết với những tập tục rất riêng của người dân đất đảo Lý Sơn vẫn cứ trường tồn như vậy vào mỗi độ tết đến xuân về.

Du lịch, GO! - Theo Võ Minh (DulichTuoitre)
Huế có một con đường quanh năm tỏa hương thơm ngát. Với nghề xe hương truyền thống, con đường theo đó đã trở nên rực rỡ sắc màu, độc đáo, đặc biệt là những ngày cận tết.

Đã thành thương hiệu

Con đường ấy uốn mình bên chân đồi Vọng Cảnh, mang tên Huyền Trân Công Chúa, thuộc thôn Trường Đá, phường Thủy Biều, TP.Huế. Không chỉ con đường mà lâu nay thôn Trường Đá cũng chỉ là một cái tên hành chính, còn người dân đã quen gọi là làng hương. Trên đoạn đường ngắn này tập trung khoảng 20 hộ gia đình chuyên nghề làm hương.

Cứ vào sáng sớm, người thợ lại đem tăm hương (loại nan của cây lồ ô dùng làm cốt cho cây hương) và hương mới ra phơi nắng. Hương được sắp xếp thành những bông hoa đa sắc màu. Có những bông chớm nở, có những bông thì vươn mình tỏa cánh, trông rất ưa nhìn. Chị Nở (44 tuổi), một người làm hương lâu nhất trong làng, cho biết: “Ngày xưa, làng còn thưa thớt, nghề làm hương chỉ có một vài nhà làm. Nghề làm hương thực sự thịnh đạt sau ngày giải phóng. Dân làng  đều sống bằng nghề này”.

Hương nơi đây nổi tiếng với nhiều mùi thơm khác nhau. Có 8 mùi chính, gồm: trầm, quế, thuốc bắc, tùng, đàn, nước hoa, bột thơm. Người thợ sẽ tùy theo nhu cầu của khách hàng rồi gia giảm sao cho phù hợp. Trong số đó, hương trầm là loại hương đặc biệt. Song hương trầm cũng có nhiều loại: trầm thường, trầm tốt, trầm đặc biệt...

Với người Huế, để cho ra một mẻ hương tốt, người thợ thường rất chú ý đến khâu tuyển chọn nguyên liệu, bao gồm: Ngũ vị thuốc Bắc với quế chi, thảo quả, nụ tùng, đinh hương, hoa hồi; ngoài ra còn kèm thêm cả vỏ quả bưởi rừng, hoa bưởi khô, quế, bạch đàn…

Hương trầm nơi đây có mùi đặc trưng riêng, không giống các nơi khác. Nó thơm xa nhưng không nức, thơm lâu nhưng nhẹ nhàng, dễ chịu. “Trong số nhiều loại hương, thì hương trầm luôn được khách hàng ưa chuộng. Đối với người Huế, mùi trầm phù hợp với không khí của cúng bái, khử mùi, xông uế... Không chỉ người trong nghề như chúng tôi mà người buôn bán ở Huế, sáng nào cũng thắp một nắm hương trầm trước cửa để mong có một ngày làm ăn thuận lợi”, chị Bé, chủ tiệm hương trầm Phương Loan, nói.

Đối với người làm nghề hương, ở bàn xe hương, luôn có một cây hương vừa tàn. Mùi hương đối với họ trở thành mùi quê hương, xứ sở. Nhiều người con xa xứ, mỗi khi nhớ về làng hương Trường Đá lại nhớ về mùi hương quen thuộc tỏa ra khắp làng. Một người thợ giỏi không chỉ xe hương nhanh, đẹp mà còn phải có nhiều kỷ thuật từ khâu chuẩn bị nguyên liệu đến trộn bột hương. Lõi hương được người thợ làm từ những cây tre làng có độ già vừa phải. Lõi hương được nhuộm đa sắc màu rồi cột lên lại và xếp trên giá phơi nắng, phơi sương nhiều ngày trời để tre thật khô, thật giòn. Thế nên, cây hương cháy đều, có tàn uốn cong đẹp mắt.

Sau công đoạn phơi khô chân hương, người thợ sẽ tiến hành công đoạn tạo màu cho “chân hương”. Ngày trước, người Huế thường chỉ làm chân hương với màu “đỏ sẫm” là chủ đạo. Nhưng hiện nay, tham quan làng Hương, bạn sẽ dễ dàng bắt gặp sự đa sắc của chân hương, nào đỏ tươi, gạch, xanh lá chuối, xanh đậm, vàng, tím… trông như 1 vườn hoa đang khoe sắc.

Để có được màu sắc cho chân hương, người thợ sẽ hòa một lượng bột màu thích hợp trong nước sôi nóng (nước càng nóng chừng nào thì màu chân hương sẽ càng tươi sắc, và giữ được lâu chừng nấy), nhúng chân hương qua một vài lần, sau đó đem phơi khô lại lần nữa. Trong công đoạn tạo màu, người thợ cũng chú ý loại bỏ những chân hương có dấu hiệu ẩm mốc vì những chân hương này khi phủ màu sẽ không giữ được màu sắc theo mong muốn của người thợ.
Thành phần mùn cưa tưởng chừng đơn giản là thế nhưng vẫn được người thợ lựa chọn khá cẩn thận. Thông thường mùn cưa phải từ những cây gỗ xốp, mềm, thân tốt, không bị mối mọt, khô, ít hút nước.

Để tạo độ kết dính cho hương, người thợ sử dụng vỏ cây “Bì lời”, một loại vỏ được lấy chủ yếu từ vùng rừng núi phía Tây Quảng Trị (Lao Bảo), hoặc từ Quảng Ngãi về.
Sau đó các thành phần sẽ được đem nhào vừa với nước sao cho hỗn hợp bột đạt độ “dẻo quánh” là có thể bắt đầu công đoạn se hương. Tuy nhiên, để tạo nên hương thơm khác biệt cho các mẻ hương lại tùy thuộc vào bí quyết của từng người thợ. Thường thì người thợ sẽ gia giảm các thành phần hương liệu theo một tỉ lệ thích hợp bằng phương pháp gia truyền. Điều mà nhiều người thợ giỏi thường nói rằng: “sự đặc biệt về tỉ lệ chính là điều quanh trọng nhất tạo cho sản phẩm có được hương thơm, độ bền nhất”.

Đa số, người thợ làm hương ở đây đều xe hương thủ công. Nhưng nhìn những cây hương đều đặn, tròn trịa, dẻo dai không ai nghĩ đó là những sản phẩm bằng tay. “Máy sấy hương” là ánh nắng mặt trời chứ không đưa vào máy sấy (vì làm như vậy hương sẽ giòn và dễ gãy, vừa làm mất mùi của hương). Nhiều thương lái đến đây mua hương ngoài yếu tố mùi thơm đặc biệt, lâu thì một phần do hương ở đây không bị gãy, bể vụn trong khi vận chuyển xa.

Hương theo chân du khách

Con đường Huyền Trân Công Chúa là đường lên lăng Tự Đức, chen giữa núi đồi, hai bên rợp bóng cây xanh. Hàng ngày, có rất nhiều khách du lịch trong ngoài nước đi qua. Không ít du khách tò mò và dừng chân nhìn ngắm con đường hương. Du khách không chỉ được tìm hiểu về nghề hương truyền thống mà còn được tự tay mình làm ra những cây hương. “Tôi đã tự tay mình xe được những cây hương. Tuy không được đều đặn nhưng thật tuyệt. Ở trong Sài Gòn, tôi cũng dùng hương của Huế. Hương Huế có mùi thơm rất đặc biệt”, chị Hà, một du khách đến từ Sài Gòn, đang ngồi xe hương tại cơ sở Phương Loan, cho biết. Khách du  lịch ghé thăm làng hương không chỉ vì nó là đường đi đến các điểm tham quan di tích mà còn tìm đến đây để tìm hiểu nghề hương truyền thống.

Thời điểm này, khi tết cổ truyền dân tộc đang đến gần, con đường hương trầm này lại càng nhộn nhịp hơn để vừa phục vụ du lịch, vừa có đủ hàng cung cấp cho các mối sỉ phục vụ nhu cầu tết. Hương của làng không chỉ cung ứng nhu cầu trong tỉnh mà còn đi đến các tỉnh trong cả nước và xuất khẩu sang nước ngoài. “Trung bình, một người thợ giỏi thì xe được khoảng 10 ngàn cây/1 ngày. Những ngày tết thì phải làm nhiều hơn mới đủ đáp ứng. Làm nghề này chủ yếu lấy công làm lời. Người lúc nào cũng bụi bặm bột hương, miệt mài từ sáng đến tối”, chị Hương, một người làm hương lâu năm, nói.

Vài điều cần biết:

- Thường người thợ sẽ trộn bột hương theo công thức : ½ keo + ½ bột trầm + 2 bột cưa.
- Làng Hương ở Huế nay thuộc thôn Trường Đá, phường Thủy Biều.
- Ngày trước, bột hương chỉ có 2 màu là: vàng và nâu đen. Nhưng hiện nay, đã xuất hiện rất nhiều màu hương khác nhau để thõa mãn nhu cầu của khách du lịch.
- Huế giờ đây cũng đã có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh về hương như Cty cổ phần nhan Vĩnh Thịnh Phát tại khu vực Tứ Hạ - Hương Trà.
- Cây hương trong Nam còn có tên gọi là “cây nhang”
- Hương thắp thường là những con số lẻ như 1,3,5,7,9. Và người Việt không bao giờ thắp cả bó hương lên bàn thờ vì khói hương sẽ xông lên ngào ngạt, điều đó biểu hiện cho sự ô trọc, sự thất kính đối với hương linh người đã khuất.
- Thắp 3 cây hương 3, theo quan niệm của người xưa:
+ Tam bảo (Phật – Pháp - Tăng)
+ Tam giới (Dục giới – Sắc giới – Vô sắc giới)
+ Tam thời (Quá khứ - hiện tại – Tương lai)
+ Tam vô lậu học (Giới – Định – Tuệ)

- Hương còn thể hiện sự “vô thường” (sự không vĩnh viễn), mọi thứ đều là giả tạm, cũng như đời người ngắn ngủi…
- Trầm hương đối với nhiều quốc gia được đánh giá là mắc hơn cả vàng: như ở bán đảo Ả Rập ngày đó, hương liệu này ngoài việc sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo quan trọng, còn được sử dụng rất nhiều như khi chưa có keo chewing gum, người Ả Rập đã vón nhựa cây trầm thành những cục nhỏ để làm sạch khoang miệng hoặc hòa với nước để chữa bệnh thận và dạ dày. Xông hương trầm còn là một phương pháp để làm thanh sạch khí quản của người khỏe, và giúp người đau mau chóng hồi phục. Ngoài ra, người A Rập còn sử dụng nguyên liệu này trong ngành công nghiệp sản xuất nước hoa, như loại nước hoa “Amvadj” rất nổi tiếng tại vương quốc Oman xưa.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Thanhnien và nhiều nguồn khác

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống