Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Thursday, 14 February 2013

Chùa Phật Đà thường được gọi là chùa Lò Gạch, tọa lạc ở số 32, đường Mạc Cửu, phường Bình San, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Chùa nằm dưới chân núi Bình San, cạnh lăng Mạc Cửu. Xưa kia, nơi đây có cái lò gạnh bị bỏ hoang. Đến năm 1945, trên bước vân du hành đạo miệt Hà Tiên, Hòa thượng Thích Chí Hoà, (thế danh Nguyễn Văn Tịnh) đã dừng chân tại chỗ này và lập nên một ngôi chùa nhỏ bằng cây lá mang tên là Tịnh Xá Chí Hòa. Và vì cái lò gạch được sử dụng làm chánh điện, để tụng kinh bái sám, nên dân địa phương gọi là Chùa Lò Gạch.

Trong thời gian trụ xứ và giáo hoá tại bổn tự, Hòa thượng đã mở mang khu vực xung quanh và xây cất thêm nhiều am tranh tịnh thất để tiếp Tăng độ chúng.

Năm 1949, Hòa thượng cùng với vài đệ tử sang Campuchia để hoằng pháp. Một năm sau đó, Ngài trở về lại quê hương và tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1954, Hòa thượng viên tịch tại Bà Rịa-Vũng Tàu. Người kế vị trụ trì là Hòa thượng Thích Quảng Tấn.

Ngài Quảng Tấn thế danh là gì, sanh năm nào, ở đâu, hành trạng ra sao, không ai rõ. Chỉ biết rằng sau khi Ngài Quảng Tấn tịch thì bà Dương Thị Thoàn, pháp danh Diệu Trí, người bí mật hoạt động cách mạng với bí danh là Trần Thị Thanh đã đến ở và coi sóc chùa.

Năm 1993, theo nguyện vọng của bà Diệu Trí và Phật tử ở đây, Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang đã bổ nhiệm Đại đức Thích Huệ Tâm, trú xứ chùa Phước Hưng (Sa Đéc) về trụ trì và đổi tên ngôi Tịnh xá thành Chùa Phật Đà. Do vì trải qua một thời gian dài không người tu bổ nên ngôi Tam bảo vốn hư cũ ngày càng thêm xuống cấp nặng. Thế nên vào tháng 9/1993, thầy trụ trì đã cho khởi công trùng tu, xây dựng mới lại ngôi đạo tràng này.

Năm 1998  với tâm thiết tha quy ngưỡng đường lối tu Thiền của Thiền sư Thích Thanh Từ, thầy xin nhập chúng tu học với Thiền sư tại Thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng – Đà Lạt. Đến năm 2000, vì bệnh duyên nên thầy phải trở về trụ xứ. Cũng trong thời gian này, thầy được Tỉnh hội bổ nhiệm làm Chánh đại diện Phật giáo thị xã Hà Tiên cho đến nay.

Năm 2009, chùa được trùng tu lại rất khang trang với đầy đủ các phòng nhà cần thiết cho sự sinh hoạt của một Tòng lâm. Mặc dù cơ sở không qui mô nhưng với lối kiến trúc hài hòa, chùa Phật Đà đã góp vào cụm thắng tích “Bình San Điệp Thúy” một danh lam Phật tự thật trang nghiêm, thanh nhã.

Chùa Phật Đà là một công trình nghệ thuật kiến trúc Phật giáo rất độc đáo, giàu tính thẩm mỹ, vừa cổ kính, lại vừa hiện đại làm tăng thêm vẻ đẹp nên thơ của thắng cảnh Bình San điệp thúy ở vùng đất Hà Tiên thập cảnh.

Chùa có kiến trúc theo hình chữ “nhất” mang đậm bản sắc Á Đông, được phối hợp giữa nét kiến trúc cổ và kỹ thuật hiện đại. Quần thể kiến trúc chùa bao gồm chánh điện, nhà thờ tổ, đông lang và tây lang, nhà phương trượng và tăng phòng. Chánh điện chùa có kiểu lò nung gạch, bên trong có tượng một vị bồ tát cầm phương trượng, nét mặt từ bi, tự tại mang hình tượng ngài Mục Kiền Liên đi tìm mẹ ở chốn âm cung.

Khác với kiến trúc thông thường ở các ngôi chùa Việt, chùa Phật Đà không có cổng tam quan, thay vào đó là hai cánh cổng được thiết kế hai bên theo mô típ kiến trúc cổng chùa của xứ Hàn. Điểm nhấn nổi bật của chùa là cây bồ đề nằm chính diện trước sân có niên đại hơn 60 năm.

Dưới gốc bồ đề tôn trí pho tượng Phật Thích Ca với tư thế tọa thiền, điều kỳ lạ là cội rễ của cây bồ đề bao trùm lên bệ tượng và đưa pho tượng lên cao hơn so với vị trí ban đầu. Thân cây có đường kính khoảng 1,5m, nhánh và tán lá xum xuê nhưng toàn bộ cội rễ đều mọc ra phía trước và hai bên mà không hề mọc vào trong sân chùa. Nhiều nhà thực vật học phải thán phục và không hề giải mã được điều kỳ lạ này.

Quả là:

“Đây chùa Lò Gạch núi Bình San
Một thuở hoang vu gội gió ngàn
Núi nhỏ um tùm cây cỏ dại
Chùa quê quạnh quẽ bóng trăng tàn
Nhân duyên pháp Phật hoa thiền nở
Cảnh trí Không môn rợp nắng vàng
Sớm vọng chuông ngân tan niệm tục
Chiều vang mõ nhịp cõi lòng an.”
Du khách đến tham quan Hà tiên thập cảnh, hành hương chiêm bái danh lam thắng cảnh nơi đây thường ghé vào chùa viếng thăm lễ Phật.

Chùa Phật Đà không chỉ đẹp về lối kiến trúc độc đáo mà còn là một không gian thiền định, một chốn thiêng liêng của cõi Phật đường. Nơi đây, nền văn hóa Việt Nam nói chung và giá trị văn hóa, tín ngưỡng tâm linh Phật giáo nói riêng được tôn vinh và gìn giữ.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ báo Giác Ngộ, NTO
Chắc Băng là một con kênh ở vùng U Minh Hạ, thuộc hai huyện: Thới Bình của tỉnh Cà Mau và Vĩnh Thuận của tỉnh Kiên Giang. Kênh Chắc Băng dài hơn 40km nối liền từ ngã ba sông Trẹm đến đầu Vàm Chắc Băng ra sông Cái Lớn. Đây là con kênh thông thương giữa vùng U Minh Hạ và U Minh Thượng.

< Lão nông Sáu Quân, nhà ở kênh Chắc Băng đoạn xã Trí Phải, huyện Thới Bình đã bỏ ra 2 tỉ đồng xây cầu bắc ngang kênh để bà con vào viếng Phủ thờ Bác Hồ dễ dàng.

Huyền thoại về Chắc Băng xưa
Theo Huỳnh Minh trong cuốn “Bạc Liêu xưa”, Chắc Băng là một con kênh nhỏ, chưa có tên. Trong lúc chạy trốn nghĩa quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đến ẩn náu ở vùng đất này...

Trong lúc lâm bệnh, nghĩ mình không qua khỏi nên ông trăn trối với quan quân rằng: “Cơn bệnh ngặt nghèo này không chữa hết. Chắc trẫm phải băng rồi!”. Về sau, người ta nhớ câu nói “Trẫm chắc băng” nên đặt tên cho con kênh này là Chắc Băng.

Còn theo nhà văn Sơn Nam, địa danh Chắc Băng là do đọc trại từ tiếng Cao Miên “Chap tung”, nghĩa là chim Chằng bè. Cách lý giải này cũng có cơ sở bởi khu vực thuộc xã Vĩnh Phong, Vĩnh Thuận, Vĩnh Bình Nam... huyện Vĩnh Thuận nằm dọc theo kênh Chắc Băng có khá đông bà con Khmer sinh sống. Các vị cao niên kể lại, Chắc Băng ngày xưa có một sân chim rất lớn, tập trung đủ loại chim cò của vùng U Minh, trong đó chim Chằng bè chiếm số lượng nhiều. Chắc Băng xưa là vùng rừng tràm khá âm u, sản vật vô cùng phong phú. Nơi đây có nhiều sân chim nổi tiếng thời bấy giờ, như: Thứ Nhứt, Kinh Dài, Thầy Quơn. Sân chim Chắc Băng có sản lượng khá lớn với các loài đặc trưng như: Chằng bè, Già đẩy, Già sói... Chim bầy, chim đàn quần tụ về Chắc Băng hòa âm bằng những tiếng kêu rộn ràng như những bản nhạc rừng.

< Đầu kênh xáng Chắc Băng tại ngã ba Sông Trẹm – Thới Bình.

Trong quyển biên khảo “Tìm hiểu đất Hậu Giang” của nhà văn Sơn Nam, tại sân chim Chắc Băng vào khoảng năm 1873, có ba lần giết chim gồm: Cuối tháng Giêng, cuối tháng Hai và cuối tháng Ba âm lịch, tổng cộng chừng 16 ngàn con. Thu hoạch nhiều là vậy nhưng cứ “đến hẹn lại lên”, chim về nhiều vô số kể. Thiên nhiên đã ưu ái cho vùng đất này rất nhiều.

Dẫu không vang danh bằng nhan sắc con gái Nha Mân (tỉnh Đồng Tháp) qua câu: “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh. Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”, nhưng con gái miệt Chắc Băng - Thới Bình cũng có sắc đẹp mặn mòi, nức tiếng. Tương truyền, trong lúc Nguyễn Ánh lâm bạo bệnh, vì muốn tạo phúc đức để trời cho khỏi bệnh, ông đã cho phép một số cung nữ xuất cung lấy chồng và định cư ở vùng đất này. Đây là một cách “giải hạn” của nhà vua. Vì là cung tần, mỹ nữ của bậc đế vương nên nhan sắc rất diễm lệ, quyến rũ. Con cháu họ sau này ở vùng Chắc Băng - Thới Bình vì thế mà có sắc đẹp nền nã.

Đến bây giờ, có dịp xuôi dòng Chắc Băng, nhiều người vẫn ấn tượng với hình ảnh những phụ nữ mái tóc dài ngang vai, đội nón lá trong chiếc áo bà ba mềm mại chèo xuồng bán trái bầu, trái bí hay bó mía với giọng rao lảnh lót, làm xao xuyến lòng người.
Năm 1919, nhận thấy vị thế chiến lược của vùng đất U Minh cũng như con kênh này nên thực dân Pháp đã cho đào mở rộng để tiện việc giao thông, giao thương.

Và Chắc Băng ngày nay

Trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, kênh Chắc Băng cũng ghi dấu những chiến công cũng như tấm lòng của người dân dọc hai bờ kênh với Đảng, cách mạng và Bác Hồ.

Sau khi ký Hiệp định Genève, kênh Chắc Băng được chọn là trung tâm khu tập kết 200 ngày để cán bộ miền Nam ra Bắc. Tại Ranh Hạt (vùng giáp ranh giữa xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau với xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang) nằm bên bờ Chắc Băng, má Lê Thị Sảnh đã tìm đến điểm tập trung, tay nâng niu cây vú sữa, nói với các đồng chí cán bộ tập kết ước nguyện của mình:


< Tại Ranh Hạt (vùng giáp ranh giữa xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau với xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang), má Lê Thị Sảnh tay nâng niu cây vú sữa, nói với các đồng chí cán bộ tập kết ước nguyện của mình: “Má muốn gởi các con cây vú sữa nhỏ này ra kính tặng cụ Hồ”. (Trong ảnh là người cháu dâu của má Sảnh).

“Má muốn gởi các con cây vú sữa nhỏ này ra kính tặng cụ Hồ và đồng bào miền Bắc, các con chuyển được không?”. Má Tư Sảnh trao tay cây vú sữa cùng với lời căn dặn thiết tha: “Ra ngoài đó, các con thưa với cụ Hồ, thưa với cô bác miền Bắc rằng, bà con trong này luôn hướng về cụ Hồ, hướng về miền Bắc”. Xúc động làm sao tấm lòng của một bà má miền Nam, bà má Chắc Băng với quê hương đất nước.

Kênh Chắc Băng còn là nơi che chở cho các đồng chí Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Võ Văn Kiệt... hoạt động cách mạng trong những năm tháng kháng chiến ác liệt. Dọc bờ kênh Chắc Băng hiện nay có ngôi trường tiểu học và trung học cơ sở mang tên Võ Văn Kiệt - như là một sự ghi ân của người dân nơi này đối với cố Thủ tướng.

Mỗi lần về Chắc Băng thật khó mà quên được. Chợ Vàm Chắc Băng ngày nay sung túc, người dân mua bán tấp nập. Hay ghé kênh Trời ăn thịt trâu mới làm buổi sớm mai để nghe như có hương vị của từng cọng cỏ, sợi rơm vùng đất này trong từng thớ thịt. Và đừng quên ghé chợ nổi Vĩnh Thuận, ghe xuồng tấp nập trên dòng kênh Chắc Băng treo lủng lẳng trái mận, trái xoài mới hái từ vườn...

< Chợ nỗi Vinh Thuận nằm trên con kênh xáng Chắc Băng.

Trên dòng kênh Chắc Băng giờ không chỉ có ghe xuồng mà còn có những chiếc cao tốc vượt sóng phục vụ nhu cầu đi lại của bà con và những chiếc xà lan, tàu chở hàng với khối lượng lớn. Dọc hai bờ kênh là những ngôi nhà tường khang trang, lên hai, ba “tấm” đầy đủ tiện nghi, đường giao thông thông suốt... Tất cả như điểm sắc hồng cho Chắc Băng hôm nay.

Về Chắc Băng hôm nay đáng khâm phục về chuyện lão nông Sáu Quân nhà ở kênh Chắc Băng đoạn thuộc xã Trí Phải, huyện Thới Bình đã bỏ ra 2 tỉ đồng xây cầu bắc ngang kênh để bà con vào viếng Phủ thờ Bác Hồ được dễ dàng. Dường như tính cách hào sảng, phóng khoáng và “chơi cho đáng đồng tiền” của người Nam Bộ vẫn “rặt ri” trong lòng mỗi người dân Chắc Băng.

Du lịch, GO! - Theo  Duy Khôi, Duy Thư (Báo ảnh Đất Mũi), internet

Wednesday, 13 February 2013

Giữa những ngày đông rét mướt, chúng tôi lại xách ba lô đến vùng địa đầu Tổ quốc. 

Không khỏi bâng khuâng vì “năm hết tết đến”, nhưng nhiệm vụ và nỗi háo hức được đến với đỉnh cao cực Bắc của đất nước đã hối thúc chúng tôi lên đường.

Vẫn còn gian khó

Sau nhiều giờ đồng hồ, mặc gió lạnh tăng cường ù réo liên hồi, vượt qua hàng trăm vòng cua tay áo, luồn qua các sườn đồi núi cheo leo khúc khuỷu, cuối cùng chúng tôi cũng “cán đích” huyện Đồng Văn (Hà Giang).

Đồng Văn xưa kia thuộc tổng Đông Quan, châu Nguyên Bình, phủ Tường Yên, tỉnh Tuyên Quang. Sau đó, Đồng Văn thuộc châu Bảo Lạc cho đến khi thực dân Pháp xâm lược với địa giới hành chính rộng lớn, bao gồm cả các huyện Yên Minh, Mèo Vạc ngày nay. Ngày 15-12-1962, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, Đồng Văn tách thành 3 huyện là Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn. Hiện nay, huyện Đồng Văn có diện tích tự nhiên trên 46.000 ha, với 17 dân tộc anh em sinh sống, trong đó người Mông chiếm tới 88,4% dân số toàn huyện.

Còn nhớ, trước năm 1965, đường lên Đồng Văn chỉ là lối mòn dành cho ngựa thồ và người đi bộ. Với mong muốn “miền núi tiến kịp miền xuôi”, ròng rã suốt 6 năm trời (1959 -1965), thanh niên xung phong và người dân 16 dân tộc anh em đã làm việc quên mình với hơn 2 triệu ngày công, tay búa tay choòng phá đá để mở gần 200km đường ôtô lên cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc, tạo nên kỳ tích trong lịch sử làm đường ở Việt Nam.

“Bây giờ Đồng Văn vẫn là huyện khó khăn nhất ở khu vực này”. Câu nói của Chánh Văn phòng UBND huyện Hoàng Ngọc Linh cắt ngang dòng suy tưởng của chúng tôi. Như để lý giải về điều này, anh bảo: “Thì các anh xem, cả huyện chỉ có 30% diện tích đất tự nhiên là có… đất. Ngay như muốn xây dựng một ngôi nhà ở thị trấn này cũng khó khăn, do đến cả cát chúng tôi cũng phải mua rồi vận chuyển cả trăm cây số từ dưới xuôi lên”. Rồi anh bảo, gần 20 năm nay, sau khi triệt phá cây anh túc cùng các hệ lụy của nó, huyện đã có nhiều chủ trương giải quyết việc làm, chuyển đổi cây trồng vật nuôi cho người dân.

Tuy đạt được nhiều thành tựu, nhưng để thực sự tìm hướng phát triển kinh tế cho Đồng Văn không dễ dàng chút nào. Phó phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đồng thời là Phó trưởng Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới Đồng Văn, Lương Đình Đoàn - người có mặt trong buổi làm việc tiếp lời: “vừa qua, huyện chúng tôi chọn thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới ở Sủng Là, nhưng đến nay vẫn chưa mang lại nhiều kết quả. Bởi, bên cạnh việc đòi hỏi phải đạt các tiêu chí, việc huy động theo hình thức xã hội hóa, hay muốn sự tham gia của người dân cũng rất khó. Thậm chí, huyện đã cấp xi măng, đầu tư mua một máy xay bột đá để thay cát cho bà con mượn làm đường thôn bản, nhưng nhiều khi chiếc máy này cũng phải “đắp chiếu”.

Tiềm năng đang chờ đánh thức

Đồng Văn là một trong bốn huyện nằm trong “Công viên địa chất cao nguyên đá”, được xác định là “vùng lõi” của Công viên địa chất toàn cầu và là địa bàn có nhiều điểm hóa thạch có niên đại cách đây khoảng 500 triệu năm. Cùng với 3 di tích được xếp hạng cấp quốc gia là di tích Nhà Vương, cột cờ Lũng Cú, Phố cổ Đồng Văn, huyện cực bắc này còn có nhiều danh thắng khác như Hang Mây, Sảng Tủng. Bên cạnh đó, đây còn là địa phương có nhiều nghề cổ truyền cùng các điều kiện thuận lợi để phát triển thủy điện, du lịch - dịch vụ, khai thác khoáng sản. Nghe nói vậy, nhưng có lẽ chỉ khi được đến những địa danh nổi tiếng, được hòa mình vào dòng văn hóa đặc trưng đa sắc màu và lang thang đến các phiên chợ vùng cao ở đây mới có thể thấy phần nào những giá trị tiềm ẩn ở vùng biên cương này.

Nằm ngay trong thị trấn huyện Đồng Văn là Phố cổ Đồng Văn. Được hình thành từ cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX, những ngôi nhà cổ hiện còn được lưu giữ ở nơi đây tuy không lớn như Phố cổ Hà Nội, Hội An, nhưng lại mang dấu ấn bản sắc của cư dân vùng cao nguyên đá nơi biên cương Tổ quốc với những ngôi nhà tường trình, lợp ngói máng độc đáo. Phong cách kiến trúc của phố cổ Đồng Văn cho thấy có sự giao thoa giữa kiến trúc truyền thống của cư dân bản địa với kiến trúc vùng Hoa Nam (Trung Quốc).

Liền kề đó là chợ cổ Đồng Văn với kết cấu hình chữ U tráng lệ, thâm trầm, mang đậm nét đặc trưng với tường nhà rất dày bằng đá, hàng cột lớn, nhà xây một hoặc hai tầng mái lợp ngói trên những kết cấu vì kèo bằng gỗ chắc chắn. Trước đây, mỗi khi chợ vào phiên, nơi này lại đông vui tấp nập, là địa điểm vui chơi, mua sắm, gặp gỡ, trao đổi hàng hóa của những người dân thuộc các dân tộc khác nhau trong khu vực. Từ năm 2010, khu chợ mới được quy hoạch rộng rãi cách chợ cũ khoảng 200m, tuy nhiên mới đây huyện Đồng Văn đã có kế hoạch để chợ phiên Đồng Văn được trở về vị trí vốn có của nó.

Cách huyện lỵ Đồng Văn 24km là cột cờ Lũng Cú, nơi điểm cực Bắc của Việt Nam, có độ cao khoảng 1.700m so với mực nước biển. Cột cờ Lũng Cú được xây dựng từ lâu và qua nhiều lần sửa chữa, nhưng lần nâng cấp gần đây nhất là vào năm 2010. Với kiến trúc độc đáo, mang ý nghĩa phổ quát cao, cột cờ có tổng chiều cao 33,15m, lá cờ Tổ quốc trên đỉnh có diện tích 54m2, tượng trưng cho 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên đất nước Việt Nam. Cột cờ Lũng Cú không chỉ đặc biệt bởi vị trí xây dựng, mang đậm dấu ấn lịch sử, mà còn là điểm đến tham quan, du lịch lý tưởng của du khách trong nước và quốc tế.

Một trong những công trình để lại nhiều ấn tượng, mang không ít màu sắc huyền bí và là điểm tham quan hấp dẫn không thể bỏ qua là công trình kiến trúc Nhà Vương, nơi ở của “Vua Mèo” Vương Chí Sình. Nhà Vương có diện tích 1.120m2, được xây dựng theo lối kiến trúc đời Thanh (Trung Quốc), tọa lạc trên “lưng rùa, nhìn vào hai núi lúa, bạc” - theo quan niệm phong thủy.

Kiệt tác kiến trúc của đồng bào Mông này được tạo dựng bằng nguyên liệu đá xanh, gỗ thông và ngói đất nung. Tổng thể khu nhà gồm 4 nhà ngang và 6 nhà dọc đều làm 2 tầng với 64 buồng chia làm Tiền dinh, Trung dinh, Hậu dinh. Tường xây bằng đá, trong ốp ván, cột kèo gỗ, sàn lát gỗ, mái ngói máng, có hàng hiên lợp ngói ống. Bố cục ngôi nhà trong 3 lớp cao dần từ ngoài vào trong, hai góc trong cùng xây 2 lô cốt đá xanh, 3 tầng, trong đó tầng một thông với tầng ngầm khu nhà trong cùng. Công trình này cùng với những câu chuyện xen lẫn huyền bí và hiện thực có sức hút lớn đối với bất cứ ai đến với Đồng Văn.

Qua mấy ngày “thực tế”, chúng tôi gặp lại Linh. Anh bảo: “Tiềm năng của Đồng Văn rất lớn. Huyện cũng có nhiều chủ trương, đề án và có cả chính sách khuyến khích thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp khi đến với Đồng Văn.

Nhưng có thể, một phần do công tác tuyên truyền, quảng bá chưa “trúng” hoặc do người ta chỉ biết đến Đồng Văn là một “cao nguyên đá” khắc nghiệt nên đến nay chưa có nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư tìm đến”.  Hay theo cách nói ví von của nhà văn Trần Bé (Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Hà Giang) thì đến nay các tiềm năng của Đồng Văn nói riêng và Hà Giang nói chung vẫn như nàng công chúa ngủ quên đang chờ hoàng tử đến đánh thức.
Dọc tuyến đường trở lại thành phố Hà Giang, chúng tôi đều có chung cảm nhận, những thửa ruộng bậc thang phơi màu chờ gieo vụ ngày một sáng hơn và sắc xuân đang ngập tràn trên cao nguyên đá.

Du lịch, GO! - Theo Liêu Chí Trung (ANTĐ), internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống