Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Wednesday, 20 February 2013

Triệu Việt Vương được biết đến là “phố cà phê” của Hà Nội, nhưng trên con đường ấy còn một địa điểm thú vị mà người dân Thủ đô, đặc biệt là những người sưu tầm tem không thể bỏ qua, đó là “chợ tem”. Chỉ cần vài chiếc ghế nhựa, những người yêu tem vẫn tụ họp mỗi sáng chủ nhật tại vỉa hè số nhà 160 để cùng nhau trao đổi và nói chuyện… tem.

Góc nhỏ dành cho tình yêu lớn

Tiếng chuyện trò rôm rả bên chén trà hay ly cà phê … khiến chợ tem, nhìn qua, chỉ giống như một nhóm người tụ tập uống nước, nhưng thực chất lại là nơi trao đổi, mua bán của những người sưu tầm tem ở Hà Nội.

Ra đời từ cuối năm 2003, từ đó đến nay, cứ 9h sáng chủ nhật hàng tuần chợ tem lại mở đều đặn để phục vụ những người chơi tem.

< Ra đời từ cuối năm 2003, đến nay “Chợ tem Triệu Việt Vương” vẫn tồn tại đều đặn không nghỉ một buổi nào trong suốt gần bảy năm qua. Gọi là chợ hè phố vì ngoại trừ mưa gió bất thường, các phiên chợ đều được họp ngay trên vỉa hè. Một hai chiếc bàn vuông, vài cái ghế nhựa, người có tem thì mang đến tìm người đổi trao, ai không có thì ngồi chơi, ngồi xem và bàn luận.

Chợ chỉ chiếm một góc nhỏ trên hè phố Triệu Việt Vương, cũng bởi lượng khách của chợ không nhiều, chỉ khoảng hơn chục người. 2/3 số ấy là khách quen kể từ khi chợ mới thành lập, những người còn lại hầu như cũng đã gắn bó với chợ được vài năm, chỉ có một số ít là khách vãng lai.

< Cứ 9 giờ sáng Chủ nhật hàng tuần là chợ tem lại họp tại một góc vỉa hè trên đường Triệu Việt Vương. Vậy nhưng chợ tem là nơi để người ta bàn, nói say sưa về những con tem.

Tuy chỉ là một địa điểm tự phát nhưng chợ tem đã duy trì được tròn 10 năm. Sở dĩ chợ tồn tại được lâu như vậy là nhờ những tâm hồn đồng điệu có cùng tình yêu dành cho tem. Hè cũng như đông, không kể nắng mưa… những khách hàng thân thiết của chợ tem luôn cố gắng không bỏ lỡ một phiên họp nào. Họ đến với chợ tem không chỉ để mua bán, “săn” những con tem độc đáo cho bộ sưu tập của mình, mà hơn thế nữa là để được giao lưu và trò chuyện.

< Đến với chợ tem, có đủ cả các tầng lớp, cả trẻ nhỏ.

Góp công khai sinh ra chợ tem, cũng là người chơi tem đã lâu, ông Phạm Hào tự hào khẳng định: “Những người ngồi ở đây chính là những người có niềm đam mê thực sự và tình yêu lớn đối với con tem chứ không phải người “Cả thèm chóng chán” đua theo  phong trào”.

“Tiếng nói” của những con tem

Tem thu hút người chơi không chỉ bởi sự phong phú về hình dạng, kích cỡ, đa dạng về hình ảnh, màu sắc mà còn bởi ý nghĩa của mỗi con tem. Những gương mặt quen thuộc của chợ tem không sưu tầm tem theo lối “lấy nhiều”, tràn lan mà thường theo đuổi một chủ đề nhất định như: giao thông, động vật, thực vật, quân đội…

< Say sưa với bộ sưu tập của mình.

Mỗi bộ tem theo chủ đề như vậy lại có “tiếng nói” riêng, nó phản ánh một phần của thế giới tự nhiên hay những nét đặc sắc trong văn hóa loài người… Chính vì những ý nghĩa đó mà người chơi tem sẵn sàng dành nhiều thời gian, công sức “lùng” cho bằng được những con tem phù hợp với bộ sưu tập của mình. Hơn thế nữa, “để hiểu được ý nghĩa của từng con tem, người chơi tem cũng phải kỳ công tìm hiểu, tra cứu thêm thông tin. Vì vậy, chơi tem không chỉ thỏa mãn thú vui mà còn tích lũy cho người chơi những kiến thức lịch sử, chính trị, nghệ thuật... nhất định” - anh Nguyễn Văn Việt, một người chơi tem chia sẻ.

< Bác xe ôm cũng.... say với sưu tập tem.

Do ý nghĩa và giá trị của mỗi con tem là khác nhau nên giá cả ở chợ tem cũng rất linh hoạt. Tem chưa qua sử dụng, gọi là “tem sống” được bán theo bộ hoặc bán lẻ từng chiếc với giá từ 5 nghìn đồng đến vài chục nghìn đồng/chiếc.

< Người chơi sưu tập tem theo chủ đề. Mỗi người chon cho mình một đề tài riêng. Chùm ảnh về chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những con tem đã qua sử dụng, được gọi là “tem chết” thì có giá thấp hơn, chỉ vài nghìn đồng. Tuy nhiên, những con tem đã qua sử dụng, nhưng vẫn còn dán nguyên trên bì thư hoặc bưu thiếp lại có giá cao hơn tem thường, tùy vào thời điểm, hoàn cảnh và nơi con tem được sử dụng mà giá tem có thể lên đến 400, 500 trăm nghìn đồng thậm chí là tiền triệu.

Khơi dậy đam mê

< Chủ đề về đồ dùng sinh hoạt.

Ở chợ tem không chỉ có những “cây đại thụ” đã sưu tầm tem được hàng chục năm và có tiếng trong làng tem như ông Đạt, ông Hào… mà còn có những người ngấp nghé thú chơi tem. Một số thanh niên và cả những em học sinh cũng đến đây để tìm những con tem yêu thích hay để được nghe kể chuyện tem, được truyền đạt những kiến thức cũng như kinh nghiệm sưu tầm tem.

< Bộ tem về người anh hùng Mạc Thị Bưởi phát hành năm 1956.

Không chỉ vun đắp tình yêu tem, chợ tem còn là nơi khơi dậy niềm yêu thích với những người chưa từng chú ý đến tem. Có những em nhỏ đi theo bố đến chợ tem, ngắm nhìn những con tem, nghe mọi người nói chuyện tem mà nảy sinh tình cảm, từ đó mới bắt đầu sở thích sưu tầm tem.

Cũng có những bạn trẻ vô tình ngồi uống cà phê, phát hiện ra chợ tem rồi cũng “mê” tem từ đó. Em Nguyễn Phước Thịnh (9 tuổi) hàng tuần đều cùng bố đến chợ tem, tỏ ra thích thú đặc biệt với những con tem. Trong khi bố trao đổi với những người khác, em cũng ngồi cạnh, chăm chú lắng nghe, mắt không rời những bộ tem.

Chợ tem tuy nhỏ bé nhưng lại là một điểm nhấn giữa Thủ đô ngàn năm tuổi. Tại đây, lịch sử được lưu truyền và tương lai được tiếp nối bởi những con người đồng cảm trong tình yêu bất tận với những con tem.

Du lịch, GO! - Theo Đỗ Thùy Linh (ANTĐ), ảnh Giaoduc.net
Món nhộng ve mới chỉ xuất hiện ở Côn Sơn -Hải Dương cách đây 3 năm mà nay đã có ở hầu hết các quán ăn, nhà hàng ở thị xã Chí Linh.

Khi nghe chúng tôi hỏi về món nhộng ve sầu, một người quen giới thiệu tới nhà hàng Diễm Hội nằm gần bãi xe số 2 của di tích Côn Sơn. Chủ nhà hàng là anh Đặng Trần Kiên vui vẻ: “Đó là một trong món đặc sản của nhà hàng mà khi khách quen về đây đều muốn thưởng thức. Lúc đầu, thấy người dân trong vùng bắt nhộng ve về ăn, tôi thấy lạ nên cũng mua về chế biến ăn thử. Sau khi ăn thấy món nhộng ve ngon, giàu đạm, bổ dưỡng không kém nhộng ong, tôi đã đưa món ăn này vào thực đơn của nhà hàng”.

Theo anh Kiên, lúc đầu khách e ngại, sau được nhà hàng giới thiệu ăn thử đều trầm trồ khen. Có người “nghiện”, hễ về Côn Sơn lại ra nhà hàng ăn nhộng ve. Người nọ truyền người kia, khách đến thưởng thức món nhộng ve của nhà hàng ngày một nhiều. Có người sau khi ăn xong còn mua về làm quà.

“Trăm nghe không bằng một thấy”, anh Kiên và vợ vào bếp chuẩn bị nguyên liệu để chế biến cho chúng tôi xem món ăn đã “chinh phục” không ít thực khách. Một túi nhộng ve được lấy ra ngâm vào nước ấm. Trong lúc chờ cho nhộng ve mềm ra, chị Hằng, vợ anh Kiên đi dập hành khô, sả. Sau khi phi hành mỡ dậy mùi, chị Hằng cho nhộng ve đã để ráo nước và sả vào chảo đảo nhanh tay.

Chị Hằng cho biết: “Nhộng ve thường được chiên với hành, sả. Cách chế biến không cầu kỳ nhưng yêu cầu người đứng bếp phải đều tay. Khi nhộng đã thơm dậy mùi thì nêm mắm, muối, mì chính sao cho vừa rồi đảo tiếp cho đến lúc nhộng có màu vàng”.

Trong lúc chị Hằng bày món nhộng ve đã chiên xong ra đĩa, anh Kiên mang tới bát tương chế gừng, ớt và một đĩa lá lốt, bảo: “Thưởng thức nhộng ve không thể thiếu hai món này. Cái lạ, cái ngon của nhộng ve là khi được quấn lá lốt, chấm tương bần”.

Chẳng lời giới thiệu nào thuyết phục hơn khi chúng tôi được thưởng thức món ăn. Vị béo bùi, thơm ngậy của nhộng ve, vị đặc trưng của hành, sả, lá lốt hòa quyện vị đậm của tương bần lan tỏa nơi đầu lưỡi. Nhai một lần thấy lạ lẫm, càng nhai càng đậm đà. Chẳng trách món dân dã này lại chinh phục được bao thực khách.

Theo anh Kiên, bí quyết thành công của món nhộng ve nằm ở khâu chế biến. Anh tự hào, mặc dù các quán trong khu vực Côn Sơn đều có bán món này song để thưởng thức khách thường tìm đến quán anh. Trung bình mỗi ngày anh bán từ 5-7 đĩa nhộng ve.

Để có nhộng ve phục vụ khách quanh năm, anh phải đặt mua của các hộ dân trong vùng hoặc mua lại của các quán khác với giá khoảng 400-500 nghìn đồng/kg, những lúc cao điểm tới 700 nghìn đồng/kg. Mặc dù giá cao "ngất ngưởng" như vậy, anh vẫn đang lo ra giêng sẽ không còn nhộng ve để phục vụ khách. Hiện trong tủ nhà hàng cũng chỉ còn 9 đĩa. Số này đã được khách dưới Hải Phòng gọi điện đặt trước.

Cũng theo anh Kiên, hiện tại nhà hàng đã giới thiệu món ăn này lên chi nhánh ở Bắc Giang và Hà Nội. Năm 2011, Đài Truyền hình Việt Nam đã từng nhờ nhà hàng làm món nhộng ve để làm phim cho chương trình ẩm thực.

Theo sự giới thiệu của anh Kiên, chúng tôi tìm gặp chị Mạc Thị Nguyệt, một người dân khu dân cư Tiên Sơn (phường Cộng Hòa, Chí Linh) từng bắt nhộng ve để bán.

Chị Nguyệt cho biết: Nhộng ve thường chui từ dưới đất lên từ chập tối cho đến 8 giờ đêm nên muốn bắt cũng phải lên rừng tầm đó. Khi chui khỏi mặt đất, nhộng đã có đủ hình hài nhưng chưa có cánh.

Nhộng ve bò lên cây thì cánh cũng mọc dần ra. Khi đi bắt soi đèn pin quanh các gốc cây, thấy nhộng ve thì bắt bỏ vào chậu hoặc ca nước để nhộng không còn tiếp tục lột được. Sau khi bắt về sẽ sơ chế bằng cách cắt bỏ chân, chần qua nước ấm cho hết mùi tanh rồi đóng túi bỏ vào cất giữ trong tủ lạnh.

Trung bình mỗi buổi tối, một người có thể bắt được khoảng 2-5 lạng. Mùa hè năm 2012, tôi bắt được khoảng 10 kg, bán từ 400-500 nghìn đồng/kg, được gần 4 triệu đồng. Trong khu, có nhà đông người đi bắt, một vụ thu về ngót chục triệu đồng.

Du lịch, GO! - Theo NGUYÊN DÃ (Hải Dương Online), internet
Cậu bạn quê ở Đà Lạt nói với tôi, cứ leo Lang Biang, ngắm Đà Lạt mới hiểu thêm được tại sao ngày trước bác sĩ Yersin lại thuyết phục Toàn quyền Đông Dương chọn nơi này xây khu nghỉ dưỡng. Đó là lý do chúng tôi quyết định chinh phục đỉnh cao nhất của dãy Lang Biang.

Những ngày không có sương mù, rặng núi Lang Biang cao thấp thoáng có thể được nhìn thấy từ trung tâm Đà Lạt, với đỉnh cao nhất là 2.169 m so với mặt biển. Từ lâu, đỉnh núi này được coi là nóc nhà của Cao nguyên Lâm Viên. Đây cũng là nơi du khách thường tìm đến để trải nghiệm cảm giác bồng bềnh trong những làn sương mỏng, ngắm Đà Lạt xa xa dần hiện ra dưới lớp sương mờ.

< Con đường mòn dẫn lên đỉnh 3.

Từ sáng sớm, nhóm 5 người chúng tôi chạy xe máy hướng về phía bắc để đến chân núi Lang Biang cách thành phố 12 km.

Từ chân núi, nơi nhiều du khách thường dùng jeep chạy lên đỉnh 1, đỉnh 2 ngắm cảnh nghỉ ngơi, chúng tôi vòng sang trái theo một con đường khác vào khu làng ở xã Lát. Nhờ một cậu bé dẫn đường, chúng tôi quyết định chinh phục ngọn núi cao nhất được người dân gọi là đỉnh 3.

Len lỏi qua những cánh rừng thông thẳng hàng, chúng tôi từng người một biến mất vào vạt rừng rậm đầy bụi cây gai cùng cậu bé 10 tuổi da cháy đen và mái tóc vàng hoe.

Một tay cầm dao, một tay cầm chiếc gậy nhỏ, cậu vừa gạt những cành cây rạp xuống đường ra hai bên, vừa chặt những nhánh cây nhất định không chịu vào hàng, phủ lên con đường mòn len lỏi trong rừng.

Thỉnh thoảng cậu lại ngắt một vài loại lá cây bỏ vào trong một cái giỏ đeo bên mình: “Vào núi, tiện em hái ít lá thuốc về cho mẹ”.

Thỉnh thoảng mệt, ngồi lại nghỉ, cậu bé lại mang đến vài ngọn cây xanh kêu chúng tôi hít mùi thơm từ nhựa cây. Chỉ sau một hai lần ngửi, cái mệt mỏi nhanh chóng tan biến và chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Thỉnh thoảng, cậu với tay hái những chùm mâm xôi đỏ mọng lấp ló ven rừng mỉm cười đưa cho chúng tôi. Có nhiều loài nấm lạ mọc trắng trên các thân gỗ mục mà cậu cho rằng không thể ăn.


< Hệ thống dây thừng dùng bám để leo lên đỉnh những đoạn khó đi.

Tiếp đến là những vách núi thoai thoải cao. Nhiều nơi đã có dây thừng buộc sẵn có thể bám vào tiếp tục leo lên cao. Mất khoảng 3 giờ đồng hồ với vài lần dừng chân lấy hơi, kéo đỡ và chờ nhau, chúng tôi lên được đến đỉnh 3 khi mặt trời vẫn chưa ra khỏi màn sương - mây trắng muốt, dầy đặc phía trên đầu.

Cái cảm giác của những người leo núi khi lên tới đỉnh thật khó tả. Tất cả các ngọn gió đều mát, mọi hơi thở đều trong lành, cảnh vật trước mắt hùng vĩ đẹp khó tả. Chúng tôi ôm nhau cười vui và sau đó là bận rộn chụp hình, quay phim, ghi lại những giây phút hạnh phúc khi chinh phục được đỉnh cao nhất trong dãy núi này.


< Loại lá cây ngửi vào khỏi mệt. Ảnh dưới: trái dâu rừng có thể ăn.

Ở lại trên đỉnh núi cả tiếng đồng hồ để nghỉ ngơi lại sức, vui đùa và ngắm cảnh, chúng tôi xuống núi với luyến tiếc: giá mà nhiều người bạn của tôi cũng có được trải nghiệm như mình.

Huyền thoại Lang Biang

Từ tên gọi Klăng - Biêng là Núi Bà - Núi Ông mà người Cơ Ho thường dùng, người Pháp phiên âm là Lang Biang hay Langbian, sau đó người Kinh phiên âm thành Lâm Viên. Từ đó đến nay, tên gọi cao nguyên Lâm Viên đã trở thành quen thuộc với mọi người.

Theo các nhà địa chất, núi Lang Biang hình thành do vận động tạo sơn. Nhưng tôi thích câu chuyện truyền thuyết mà cậu bé dẫn đường kể cho nghe trên đường xuống núi.

< Phút nghỉ chân trên đường leo lên đỉnh.

Ngày xưa vùng này đất đai màu mỡ, khí hậu mát mẻ quanh năm. Nhiều bộ tộc sống ở đây. Hai bộ tộc mạnh nhất là Lạch và Srê nhưng lại là kẻ thù của nhau. Tộc Lạch có một tù trưởng đẹp trai, khỏe mạnh phi thường tên Lang. Nhiều thiếu nữ muốn bắt chàng về làm chồng. Tộc Srê có người con gái tên là Biang rất đẹp. Có hai con rắn tinh ghen tị với sắc đẹp của nàng nên muốn hại nàng.

Một hôm nàng vào rừng hái quả thì bọn chúng tấn công. Chàng Lang đi săn, thấy người gặp nạn đến cứu, giết chết rắn tinh. Từ đó chàng Lang và nàng Biang yêu mến nhau nhưng tình yêu của hai người bị cản trở vì mối thù giữa hai dòng tộc.


< Từ đỉnh 3 nhìn ra đỉnh 1 và 2.

Một hôm Biang trốn nhà đi tìm Lang. Cả hai ngồi cạnh bên nhau buồn bã nhiều ngày đêm. Biang khóc, nước mắt nàng tuôn trào hòa vào con thác khiến cho nó gầm rú ngày đêm như khóc than cho mối tình tuyệt vọng của hai người mà ngày nay trở thành con sông Đanhim. Rồi sau một đêm giông tố, họ qua đời.

Các bộ tộc thương xót cho chuyện tình của cặp trai gái. Trước xác hai con, hai già làng bắt tay nhau xóa mọi hận thù và tập hợp các bộ tộc khác thành dân tộc Cơ Ho. Người dân thương cảm hằng năm cứ đắp hai nấm mộ cao lên. Giàng thương xót phủ hoa lá thành ngọn núi xinh đẹp: núi Lang Biang ngày nay.

Du lịch, GO! - Theo KimDung (iHay)

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống