Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Saturday, 9 March 2013

mỗi miền quê Việt, mỗi món bánh cổ truyền thường có nhiều tên gọi và cách làm khác nhau. Đối với người Tày, bánh trôi gọi là coóng phù, không chỉ có hương thơm của gạo, vị ngọt của mật mía, vị bùi của lạc, mà còn có chút cay nồng của gừng.

< Coóng phù của người Tày.

Bánh trôi, món bánh thân quen của người Việt, thường được dùng nhiều nhất trong dịp tết Thanh minh (mùng 3.3 âm lịch). Ở khắp mọi nơi, con cháu các gia đình đều làm mâm cơm, thành tâm dâng cúng tổ tiên, trong đó không thể thiếu món bánh trôi, bánh chay.

Ở vùng đồng bằng Bắc bộ, bánh trôi thường làm từ bột gạo, chủ yếu là gạo nếp, có pha chút tẻ thơm. Sau khi ngâm gạo xong, xay bột lẫn nước, để ráo rồi nặn bột, vê tròn, trong bọc viên mật thái hạt lựu, thả vào xoong nước đang sôi. Đun chừng 5 phút, khi bánh được ba phần chìm, bảy phần nổi là vớt ra, ngâm qua trong nước nguội, đơm đĩa. Để khỏi dính đĩa, dưới đáy thường có lót lá chuối, ở giữa là bánh trôi, bên trên có thể rắc thêm vài hạt vừng.

Món bánh trôi của người Tày lại có cách làm cầu kỳ hơn, hương vị cũng rất đặc trưng với dư địa của vùng núi và thường được dùng nhiều trong tiết trời còn se lạnh của mùa Đông.

Thoạt nhìn, bánh coóng phù của người Tày không khác nhiều so với bánh trôi của vùng đồng bằng. Nguyên liệu chế biến cũng tương tự, cũng là gạo nếp, xay bột lẫn nước, cho vào bọc vải, để róc nước. Sau đó nặn bột, vo viên tròn, rồi thả vào nước sôi…

Nhưng khác với bánh trôi là nhân bánh coóng phù khi thì được làm bằng lạc rang giã nhỏ rồi nấu với nước đường đỏ; có khi lại làm bằng đỗ xanh đã đồ chín, trộn lẫn với đường kính.
Nước đun bánh cũng phải là nước đường, đun sôi, đợi sủi tăm rồi mới thả bánh vào. Khi thả những viên bánh coóng phù vào nồi, động tác phải thật nhẹ nhàng, thuần thục, không được để bánh vỡ. Đợi khi những chiếc bánh nổi lập lờ mới từ từ vớt ra, thả vào bát, chan với nước đường đang nóng hổi.

Theo kinh nghiệm làm bánh coóng phù của người Tày, để có hương vị đặc trưng thì nước chan bánh phải được làm từ mật mía, pha sao cho vừa có đủ độ ngọt, vừa có độ sánh và chỉ nên thêm vài lát gừng đã giã dập.

Nếu trong tiết trời se lạnh, được thưởng thức món coóng phù nóng hổi, đượm chất ngọt của mật mía, vị bùi của lạc, nồng cay gừng và mùi thơm của gạo, hẳn sẽ khiến bạn phải nao lòng khi rời xa nơi đây.

Du lịch, GO! - Theo Huyền Phương (Dân Việt), internet

Friday, 8 March 2013

Chợ tình Khau Vai còn gọi là “Chợ phong lưu”, phiên chợ tình nổi tiếng có một không hai này họp mỗi năm một lần vào ngày 27-3 âm lịch, trên một quả đồi tại thôn Khau Vai, xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

Chợ tình Khau Vai có từ cách đây gần trăm năm, bắt nguồn từ câu chuyện tình của một đôi trai gái. Chuyện kể lại rằng, vào thời bấy giờ, đất Khau Vai chỉ có người Nùng và Giáy sinh sống. Họ sống riêng thành từng làng và mọi chuyện bắt đầu khi có một chàng trai người Nùng đem lòng yêu tha thiết một cô gái người Giáy ở làng bên...

Chuyện tình của họ đang đẹp như bông hoa, như đôi chim lửa của núi rừng Khau Vai thì cha mẹ, họ hàng hai bên biết chuyện. Họ ra sức ngăn cản bởi theo lệ thời đó, dân tộc nào chỉ lấy người dân tộc ấy, hơn nữa việc dựng vợ gả chồng là việc của cha mẹ nên việc đôi trai gái tự tìm đến nhau là trái với lệ làng…

Sự cấm đoán của hai gia đình đã khiến cho đôi trai gái quyết định cùng nhau trốn lên núi. Nhưng không ngờ cuộc chạy trốn của họ lại càng làm cho mâu thuẫn giữa hai gia đình ngày một trầm trọng.

Từ chỗ chỉ có xích mích giữa hai gia đình, dòng họ dần dần đã dẫn đến xích mích giữa hai làng người Nùng và người Giáy. Từ trên núi cao nhìn xuống thấy cảnh tượng xô xát giữa hai làng, đôi trai gái rất đau lòng, họ đành phải gạt nước mắt chia tay nhau. Hai người hẹn ước cho dù không thành vợ thành chồng nhưng mỗi năm sẽ gặp lại nhau vào ngày này (tức là ngày 27 tháng 3 âm lịch).

Thế là mỗi năm cứ đến ngày hẹn, chàng trai và cô gái lại lên ngọn núi đó gặp gỡ, giãi bày tâm sự… Cứ như vậy cho đến một ngày kia khi dân làng biết chuyện, cảm phục tình yêu của đôi trai gái, người ta quyết định mở chợ tại ngọn núi - nơi đôi trai gái đã hẹn hò nhau.

Chợ được mở ra, mỗi năm một lần làm nơi gặp gỡ cho những đôi trai gái vì nhiều nguyên nhân không lấy được nhau. Đúng ngày này, họ hẹn nhau về đây để tâm sự, thông báo cho nhau cuộc sống riêng của mỗi người, ôn lại những tình cảm, sự nhớ nhung do xa cách.

Có rất nhiều đôi vợ chồng cùng nhau đến chợ; đến nơi, vợ đi tìm bạn của vợ, chồng đi tìm bạn của chồng, họ không ghen tuông, không bực bội, mà tôn trọng nhau, tôn trọng bạn của vợ, của chồng mình; họ coi đó là sự linh thiêng, là bổn phận và trách nhiệm trước cuộc sống tinh thần của người bạn đời (thực tế tại chợ tình Khau Vai, các đôi bạn tình có thể ngồi tâm sự với nhau suốt đêm 26, cả ngày 27-3, chợ tình bắt đầu từ đêm 26 và kết thúc vào chiều tối ngày 27).

Câu chuyện xưa có cái gì đó hư hư thực thực, đã góp phần tạo nên sức lôi cuốn kỳ lạ về mảnh đất này, và thu hút biết bao du khách gần xa về thăm.

Khau Vai bây giờ không chỉ có người Nùng và người Giáy nữa mà còn có người Mông, người Dao cùng sinh sống đoàn kết bên nhau. Các chàng trai, cô gái được tự do tìm hiểu và quyết định hôn nhân mà không gặp phải sự cản trở của các bậc làm cha làm mẹ.

Chợ tình Khau Vai không chỉ là nơi hò hẹn của những đôi trai gái lỡ duyên nhau mà còn là nơi gặp gỡ làm quen của nam nữ thanh niên và đã có biết bao đôi trai gái nên vợ thành chồng từ chợ tình Khau Vai.

Đến Hà Giang trong những ngày tháng 3 âm lịch không thể không nhắc đến chợ tình Khau Vai. Với những giá trị tự thân của nó, chợ tình Khau Vai cũng đã trở thành điểm đến mỗi năm của nhiều du khách trong những ngày đầu xuân. Trong dịp này, du khách sẽ được thưởng thức những làn điệu dân ca, những câu hát đối, hát phướn của các chàng trai, cô gái người Tày, người Nùng, nghe tiếng sáo tỏ tình của các chàng trai người Dao, thưởng thức tiếng khèn thiết tha của các chàng trai người Mông gọi bạn, được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những thiếu nữ vùng cao đang trong độ tuổi trăng rằm, xúng xính với những bộ váy áo thổ cẩm sặc sỡ sắc màu.

Chợ tình Khau Vai cho đến hôm nay tuy đã có gì đó thay đổi, nhưng vẫn giữ được nét đặc sắc, độc đáo riêng, mang đậm các giá trị văn hóa nhân văn.

Trong cái nhộn nhịp của sự mua bán, trao đổi hàng hoá, ta vẫn bắt gặp đâu đó ánh mắt kiếm tìm mải miết, vẫn nghe đâu đó văng vẳng lời kèn lá nỉ non hòa trong tiếng gió vi vu như kể lại cho du khách câu chuyện tình ngày xửa, ngày xưa…

Du lịch, GO! - Theo Cổng thông tin Điện tử tỉnh Hà Giang, ảnh internet
Núi Pắc Tạ (trong tiếng Tày có nghĩa là "vú của trời") hay còn gọi là Núi Voi, là ngọn núi cao nhất huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang, có dáng hình chú voi đứng bên nậm rượu. Sừng sững, uy nghiêm, thoắt ẩn, thoắt hiện trong mây vờn bên hồ thủy điện Tuyên Quang, núi Pắc Tạ là nguồn cảm hứng cho các văn nghệ sỹ, du khách sáng tác thơ ca, hội họa và nhiếp ảnh.

Núi Pắc Tạ còn có tên là núi “Xa Tạ” gắn liền với truyền thuyết từ xa xưa để lại. Xưa kia, tại một khu rừng rậm có rất nhiều loài thú dữ, trong đó voi là loài vật có sức khỏe nhưng lại khó thuần, dân bản tìm đủ mọi cách để thuần dưỡng voi dùng làm sức kéo chuyên chở hàng hóa.

< Bến thuyền.

Năm đó, có giặc ngoại xâm vào xâm chiếm, bà con địa phương tập trung tất cả binh lực dồn cho cuộc chiến đấu giữ nước, trong đó có đàn voi đã được thuần dưỡng. Thế nhưng, trong đàn voi có một con voi đực to khỏe nhất đàn, không ai thuần dưỡng được. Bao nhiêu tướng lĩnh giỏi phải chịu bó tay trước con voi hung dữ. Trong bản có một người quản voi dũng cảm xin đảm nhận công việc này.

Ngày đầu tiên, ông cho già trẻ, trai gái trong bản dùng đất đá chặn tất cả những dòng suối, khe lạch xung quanh vùng rừng voi sinh sống. Ba ngày sau voi đực khát nước, lúc này ông mới đổ rượu vào hõm đá cho voi uống thay nước.

Năm ngày, rồi mười ngày, voi uống rượu thay nước, lâu dần thành quen với rượu và người quản tượng. Ông đã thuần dưỡng được chú voi đực hung dữ, có thể đặt bành lên lưng điều khiển voi làm theo mệnh lệnh. Từ đó người dân trong bản gọi là “voi rượu”.

Đến ngày xuất trận “voi rượu” hùng dũng xông ra trận tiền phá tan đội hình quân giặc. Chiến thắng trở về, “voi rượu” được nhà vua phong làm “Voi Quận công” và mở yến tiệc linh đình chiêu đãi tướng sỹ. “Voi rượu” hút hết nậm rượu này đến nậm rượu khác. Say quá “voi rượu” tắt thở.

< Thác ở chân núi chảy vào hồ Nà Hang.

Nhưng kỳ lạ thay, voi chết mà vẫn đứng sừng sững uy nghiêm, dáng vẻ hùng dũng như lúc xung trận. Đêm ấy trời mưa tầm tã, gió rít ào ào như bày tỏ niềm tiếc thương của dân bản đối với “voi rượu”. Sáng hôm sau người ta thấy cả voi và nậm rượu đã hóa đá, khối đá ấy mỗi ngày một lớn dần lên thành ngọn núi Pắc Tạ ngày nay.

Dưới chân núi Pắc Tạ còn dấu tích một ngôi đền cổ. Tương truyền, vào đời Trần có người thiếp của tướng quân Trần Nhật Duật theo chồng đi kinh lý vùng sông Gâm và sông Năng. Trên đường về, thuyền chở người thiếp bị gặp nạn.

Do nước quá sâu, lại chảy xiết nên không thể cứu vớt được nàng. Cho đến mấy ngày sau, xác của nàng mới tìm thấy và được mai táng bên bờ sông Năng dưới chân núi Pắc Tạ. Ngôi đền thờ người thiếp được dựng ngay gần nơi chôn cất để tưởng nhớ người thiếp của tướng quân Trần Nhật Duật.

< Đập thủy điện ven chân núi.

Đền Pắc Tạ nằm ở địa thế cao, bằng phẳng dưới chân núi Pắc Tạ. Cửa đền quay về hướng nam, trông ra dòng sông Gâm theo thuyết phong thủy “Tiên minh đường hữu hậu chẩn” ở thế đất địa linh “sơn kỳ thủy tú”. Sự kết hợp giữa cảnh sắc thiên nhiên với nhịp sống con người miền sơn cước tạo nên cảnh sắc sơn thủy hữu tình.

Đây là ngôi đền thiêng, dân thập phương qua đây buôn bán lâm thổ sản quý hiếm đều dừng thuyền thắp hương cầu nguyện được như ý. Ngày nay, núi Pắc Tạ và đền Pắc Tạ là điểm du lịch sinh thái, tâm linh hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế.

Du lịch, GO! - Theo báo Tuyên Quang, ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống