Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Wednesday, 13 March 2013

Lễ hội Đền Bờ diễn ra từ ngày 7 tháng giêng và kéo dài tới hết tháng ba âm lịch. Đến nay đã có hàng vạn lượt du khách hành hương tới Đền Bờ. Đặc biệt vào những ngày nghỉ cuối tuần, lượng du khách tăng đột biến, tàu thuyền đậu kín các bến cảng Bích Hạ (xã Thái Thịnh, thành phố Hòa Bình), bến Thung Nai (xã Thung Nai, huyện Cao Phong).

Đi lễ Đền Bờ, du khách sẽ được hòa mình vào thiên nhiên giữa mênh mông sông nước, giữa những hòn đảo lớn nhỏ lô nhô, xung quanh là các bản làng của người dân tộc Mường, Dao… tạo nên một bức tranh thơ mộng sơn thủy hữu tình, như một Vịnh Hạ Long trên núi.

Thác Bờ xưa là đoạn sông Đà chảy qua khu vực chờ Bờ, thuộc xã Hào Tráng (nay là xã Thung Nai, huyện Cao Phong và xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc). Thác Bờ xưa còn gọi là thác Vạn Bờ, được tạo bởi hàng trăm mỏm đá lớn nhỏ nhấp nhô như đàn voi khổng lồ giữa dòng sông Đà gầm thét ồn ào, sinh ra một kỳ khu hiểm lộ.

Theo truyền thuyết dân gian, vào khoảng năm 1430 - 1432, vua Lê Lợi đem quân đi dẹp loạn giặc Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ, Sơn La. Khi vua kéo quân đến khu vực Thác Bờ, thì thấy giữa dòng nước xoáy phía trước là một thác nước hiểm trở xô bọt trắng trời, với muôn vàn mỏm đá lởm chởm nên đoàn quân không thể tiến lên được.

Lúc bấy giờ ở xã Hào Tráng có cô gái dân tộc Mường tên là Đinh Thị Vân và cô gái dân tộc Dao (không rõ tên) ở xóm Mó Nẻ, xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, đứng lên vận động trai tráng trong bản lên rừng xẻ ván, đóng thuyền độc mộc, kêu gọi nhân dân chặt nứa kết thành bè mảng, góp lương thực, thực phẩm cho nhà vua nuôi quân và chở giúp quân sĩ qua Thác Bờ đi đánh giặc. Về sau khi hai bà mất, thường hiển linh và giúp đỡ mọi người mỗi khi vượt qua thác ghềnh hiểm trở. Từ đó nhân dân đã phong cho 2 bà là Bà chúa Thác Bờ. Vua đã ban chiếu chỉ cho dân trong vùng lập đền thờ 2 bà.

Trải qua nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính thì hiện nay đền Thác Bờ tọa lạc trên dải đất của hai huyện là Đà Bắc và Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.

Đền Thác Bờ phía tả ngạn nằm trên đỉnh đồi Hang Thần có tổng diện tích trên 1 ha, thuộc xóm Phố Bờ, xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc. Từ dưới bến thuyền du khách phải leo qua hơn 100 bậc sau đó theo một triền dốc thoải là vào đến khu vực đền. Trong đền có 38 pho tượng lớn nhỏ, tượng thờ chính là hai pho tượng bằng đồng.

Đền Bờ phía hữu ngạn tọa lạc trên sườn đồi Sầm Lông, thuộc xóm Đền, xã Thung Nai, huyện Cao Phong. Trước đây đền Thác Bờ được xây dựng ngay dưới chân Thác Bờ với nguyên vật liệu chỉ là tranh tre, nứa lá.

Năm 1979, công trình Nhà máy thủy điện Hòa Bình trên Sông Đà được khởi công xây dựng. Do nước dâng cao, ngôi đền đã phải di rời lên sườn núi ngay cạnh bờ sông, qua nhiều lần tu sửa đến năm 2000 ngôi đền được nâng cấp xây dựng khang trang như hiện nay.

Bao giờ cũng vậy, người đi lễ cũng sẽ cầu nguyện ở đền Trình, sau đó mới lên tới đền Chúa. Mỗi ngôi đền nằm trên một hòn đảo cách xa nhau khoảng gần 20 phút đi thuyền. Mỗi ngày, Đền Bờ đón hàng ngàn khách thập phương nô nức đến lễ Phật, lễ Chúa cầu may.

Sau khi đã hành lễ xong, những người hành hương sẽ cùng nhau thưởng thức món cá nướng sông Đà chính hiệu như cá măng, cá thiểu, được xếp thành từng mớ vàng ruộm thơm lừng, hay món gà xiên nướng trên bếp than củi hồng rực.

Vào thăm động Thác Bờ với nhiều tầng, thạch nhũ muôn hình lung linh soi bóng nước, có cây vàng, cây bạc, ô trời, lọng trời… Động Thác Bờ nằm ở sườn núi phía Bắc của dẫy núi Chủa nhìn ra mặt sông. Động có chiều sâu tới hơn 100m. Lòng động gập ghềnh, nhấp nhô chỗ rộng, chỗ hẹp, nơi rộng nhất tới 20m. Đặc biệt, tạo hoá ban tặng dàn đàn đá, dàn cồng chiêng Mường với vẻ đẹp tuyệt mỹ.

Đến nơi đây, du khách sẽ được hòa mình vào thiên nhiên giữa mênh mông sông nước, giữa những hòn đảo lớn nhỏ lô nhô, xung quanh là các bản làng của người dân tộc Mường, Dao… tạo nên một bức tranh thơ mộng sơn thủy hữu tình. Chẳng thế mà có ai đó đã ví rằng “hồ Thác Bờ như một Hạ Long thu nhỏ".
Đây là tuyến du lịch sinh thái - văn hóa - tâm linh hấp dẫn, nhất là khi hồ Hòa Bình đã được đưa vào điểm du lịch trọng điểm Quốc gia.

Tham quan Thác Bờ viếng đền Bà Chúa ở Hòa Bình
Động Thác Bờ (Hòa Bình)

Du lịch, GO! - Theo Báo Tin Tức, Fcar
Buôn M’Liêng, xã Đắc Liêng nằm sát bên hồ Lắk và tiếp giáp với những cánh rừng nguyên sinh - đây được xem là những điểm du lịch nổi tiếng, hấp dẫn vào loại bậc nhất ở Tây nguyên.

Nét độc đáo của buôn M’Liêng là đồng bào Mơ Nông ở đây còn gìn giữ được nhiều tập quán sinh hoạt văn hóa truyền thống hết sức quí báu như lễ hội, nghề thủ công, nghề dệt thổ cẩm; nhiều vật dụng sinh hoạt như ghế Kpal, trống H’gơr, chiêng, ché cổ. Và đặc biệt 100% hộ dân ở buôn M’Liêng còn ở trong những nếp nhà dài truyền thống, trong đó có những ngôi nhà được xây cất bằng những vật liệu từ rừng, giống hệt như những ngôi nhà mà tổ tiên họ dựng cách ngày nay hàng trăm năm.

Chính những yếu tố trên nên buôn M’Liêng được Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch chọn triển khai dự án bảo tồn buôn cổ. Theo ông Trương Bi, phó giám đốc Sở Văn hóa - thông tin tỉnh Đắc Lắc, nhà nghiên cứu văn hóa Tây nguyên - thì những giá trị văn hóa mà đồng bào Mơ Nông ở buôn M’Liêng còn lưu giữ được thật quí báu.

Với những tác động tích cực từ dự án bảo tồn buôn cổ này, tỉnh Đắc Lắc sẽ xây dựng buôn M’Liêng trở thành buôn văn hóa, buôn du lịch, làng nghề truyền thống đặc trưng của người Mơ Nông. Cũng theo ông Trương Bi, từ năm 2007-2009, tỉnh Đắc Lắc sẽ đầu tư 5 tỉ đồng cho việc bảo tồn và phục dựng buôn văn hóa cổ M’Liêng.

Việc bảo tồn và phục dựng buôn cổ M’Liêng bao gồm bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể như: phục dựng lễ hội, dạy diễn tấu cồng chiêng, khôi phục các nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, làm đồ gốm... Bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể gồm: phục dựng sáu ngôi nhà cổ bằng vật liệu truyền thống của người Mơ Nông (cột nhà và sàn nhà bằng gỗ, vách nhà bằng phên lồ ô, mái lợp tranh), với mức đầu tư 600-700 triệu đồng/nhà; xây dựng một nhà văn hóa cộng đồng theo kiến trúc truyền thống bằng vật liệu dân gian kết hợp với vật liệu hiện đại.

Sau khi hoàn thành việc phục dựng theo nguyên bản buôn cổ vào năm 2009, buôn M’Liêng sẽ trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước, đồng thời cũng là địa điểm cần tìm đến của những nhà nghiên cứu về văn hóa Tây nguyên, nhất là văn hóa dân tộc Mơ Nông.

Trao đổi với chúng tôi, anh Trần Văn Minh - trưởng Phòng Văn hóa - thể thao huyện Lắk, cho biết toàn huyện hiện có hơn 59.000 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 36.000 người, sinh sống ở 85 buôn. Đến thời điểm này huyện Lắk đã đầu tư xây dựng được 71 nhà văn hóa cộng đồng cho các buôn dân tộc thiểu số, có 34 buôn được công nhận buôn văn hóa cấp huyện.

Và tiêu biểu nhất vẫn là buôn M’Liêng - buôn đang được đầu tư xây dựng thành buôn văn hóa tiêu biểu của toàn quốc. Mới đây, tỉnh Đắc Lắc đã cấp cho buôn M’Liêng 13 bộ cồng chiêng, xây dựng thêm ba ngôi nhà dài truyền thống và chuẩn bị khởi công xây dựng nhà văn hóa cộng đồng có qui mô lớn hơn nhà văn hóa cộng đồng mà huyện đã đầu tư xây dựng.

Già làng Y Đrơng Bkrông tiếp khách bên bếp lửa trong ngôi nhà dài truyền thống với hai hàng cột gỗ sao to đầy tay người ôm. Căn nhà dài của Y Đrơng cũng như hơn 100 căn nhà khác trong buôn được làm bằng cây rừng theo mô hình nhà truyền thống, mỗi nhà có chiều dài gần 30m, gồm năm gian, đủ cho ba gia đình nhỏ cùng sinh sống.

Theo lời của già làng Y Đrơng thì buôn M’Liêng còn nhiều gia đình giữ được chiêng cổ, ché cổ và cả ghế Kpal - nơi nghệ nhân ngồi diễn tấu cồng chiêng - làm bằng cả nửa cây gỗ quí có đường kính chừng hơn 1m, chiều dài hơn 20m... Già làng Y Đrơng dẫn chúng tôi đi xem dãy ché cổ tám chiếc và ba bộ chiêng quí của ông bà để lại. Ông bảo: “Những chiêng, ché này mình coi là vật thiêng, của quí.

Trước đây có nhiều người từ nơi khác đến hỏi mua, nhưng mình không bán. Mình phải giữ lại cho con cháu”. Cũng theo lời kể của già làng, trước đây khi những cánh rừng đại ngàn dưới dãy núi Chư Yang Sin còn nhiều gỗ quí, bà con buôn M’Liêng đã dùng những chú voi lực lưỡng của buôn mình vào rừng kéo gỗ về mới dựng lên được những ngôi nhà dài vững chắc thế này ngay bên hồ Lắk. Nhẩm tính căn nhà của già làng phải làm hết hơn 100 cây gỗ tốt.

Nói về cuộc sống của bà con trong buôn, buôn trưởng Ma Hoa kể: “Ngày trước, bà con thường vào rừng săn bắn, hái lượm và chủ yếu làm lúa rẫy, tỉa bắp. Nay bà con đã biết trồng lúa nước hai vụ. Nhà nào cũng có ruộng lúa, có rẫy đậu, rẫy bắp và nuôi được nhiều bò, heo nên cuộc sống cũng đã khấm khá hơn. Nhà nước không còn phải cứu trợ thường xuyên nữa".

Tuy nhiên, Ma Hoa cũng lo lắng vì những nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, làm gốm trước đây nay bị mai một. Và việc dự án phục hồi buôn cổ giúp bà con tìm lại được những nghề truyền thống này thật đáng quí.

Những ngày xuân này, đồng bào Mơ Nông ở buôn M’Liêng cũng như nhiều buôn làng khác ở Tây nguyên bắt đầu vào mùa lễ hội với nhiều hoạt động hết sức độc đáo, như lễ mừng lúa mới (mừng vụ mùa thắng lợi), hội đua voi. Niềm tự hào của già làng Y Đrơng là buôn M’Liêng bây giờ đã là điểm dừng chân của khách du lịch trong và ngoài nước. Sau này khi khôi phục được những nghề truyền thống, bà con buôn M’Liêng vừa gìn giữ được văn hóa của tổ tiên ông bà, lại có thêm việc làm cải thiện đời sống.

Du lịch, GO! - Theo Kiều Bình Định - Quân Đội Nhân Dân, ảnh internet
Lâu nay, muốn đặt chân tới khu vực ngã ba biên giới thuộc xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé (Điện Biên), nơi từng được ví “một con gà gáy ba nước đều nghe”, người ta bắt buộc phải sử dụng môtô hoặc bằng “đôi chân không mỏi” suốt thời gian sáu ngày trời.

Chưa kể đường đi hiểm trở, địa hình chia cắt, hết dốc này đến dốc cao hơn, những con suối quanh năm nước chảy cuồn cuộn, bên cạnh đó là cánh rừng già Tà Cù Tí, Mơ Phơ đầy thú dữ và thường gây nạn cháy rừng.

< Điểm trường Tà Miếu.

Đến giờ vùng biên giới xa xôi đang được kéo lại gần bởi đường giao thông hầu hết đã trải nhựa và chỉ còn sót lại một số đoạn đường cấp phối mới thông tuyến kỹ thuật. Nhờ vậy, xe du lịch hiện nay có thể chạy xuyên suốt từ thành phố Điện Biên rồi rẽ thị trấn Mường Nhé và sau hết chạy tiếp vào cửa khẩu quốc gia A Pa Chải (Việt Nam) - Long Phú (Trung Quốc) cự ly chừng 280km mất đúng một ngày.

Tuy nhiên, đó cũng chỉ tới cột mốc số 6, ranh giới giữa Việt Nam - Trung Quốc. Nếu muốn tiếp tục chinh phục cột mốc số 0, phân định lãnh thổ biên cương ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc, khách phải mất thêm một ngày vượt qua dãy núi án ngữ nằm phía tây nam, trước khi chạm tay vào cột mốc hình tam giác khắc ba thứ tiếng Việt Nam - Lào - Trung Quốc trên đỉnh cao 1.800m.

< Bên cột mốc số 0, cực tây Tổ quốc.

Với những người có đam mê khám phá thì cột mốc số 0 miền đất xa xôi tận cùng là dịp thử thách lòng can đảm và ý chí vượt khó, nhưng đổi lại sẽ được hưởng niềm vui hạnh phúc, tự hào của kẻ chinh phục. Hơn thế nữa, đây là nơi duy nhất để chiêm ngưỡng những ánh nắng hoàng hôn cuối cùng trên lãnh thổ Việt Nam.

Song còn đó một A Pa Chải của những bản làng người Hà Nhì gắn bó bao đời nay bên dòng sông Mo Phi chảy vòng vèo biên cương cực tây và là nơi mức sống dân cư thấp, gặp nhiều khó khăn, cơ cực nhất Điện Biên. Dù vậy cái tình của họ luôn chân chất, cả tin, đậm đà như bát rượu ngô tràn đầy. Hằng năm vào tháng ba ngày Dần, theo tục lệ người Hà Nhì sẽ cúng trời đất cầu mong mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hòa, nếu khách lạ đi qua bản dịp này được dân làng giữ lại đãi đằng rượu thịt suốt ba ngày mới được trở về.

< Chợ phiên Vàng Lếch.

Trên cung đường vòng cung Tây Bắc, hầu như nơi đâu khách phương xa cũng có thể bắt gặp những người phụ nữ mạn cao với trang phục dân tộc đậm đà bản sắc, nhưng khi ngắm nhìn bộ trang phục người Hà Nhì sẽ càng bất ngờ, thích thú hơn, trong đó chiếc mũ trên đầu là điểm nổi bật, độc đáo nhất bởi được các cô thiếu nữ kết bằng hạt cườm đan xen những hàng cúc bạc cùng nhiều tua rua bằng chỉ màu sặc sỡ. Riêng áo dài được xẻ từ sườn xuống chân và phần trước ngực luôn thêu hoa văn, đính thêm nhiều đồng xu hoặc cúc nhôm trông chẳng khác chiếc yếm ngực bằng bạc.


< Các cháu Mông ở Vàng Lếch chờ mẹ đi chợ phiên về.

Mường Nhé là huyện mới thành lập sau khi được tách ra từ huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và dân bản địa hầu hết là người dân tộc thiểu số: người Mông đỏ sống rải rác trên dãy núi ở Chà Cang; người Si La, dân tộc ít người nhất Tây Bắc, trú ngụ trong vài mươi nóc nhà tại bản Nậm Sin, Chung Chải; người Thái trắng sống bên ngôi nhà sàn dọc con suối Nậm Nhé; người Hà Nhì quây quần ở phía tây. Đáng tiếc, vùng mạn ngược này cho đến nay vẫn chưa thoát khỏi nếp sống “tự cung tự cấp”, thậm chí chưa hề có chợ phiên ngoài phiên chợ Vàng Lếch của người Mông Hoa di dân từ tỉnh Lào Cai sang.

Vàng Lếch là phiên chợ vốn dĩ theo kiểu tự phát, ít người biết tới lại rất xa xôi, tận trong thung lũng vùng Nậm Tín, Nà Hài... nên vẫn còn giữ được nguyên sơ đến mức không có sạp hàng, lồng chợ, và người mua kẻ bán đều xúm xít đứng ngồi giữa trời giống như hàng trăm năm về trước. Tuy thế, Vàng Lếch không hẳn chỉ là chợ, bởi cứ ngày chủ nhật, dân bản, trai gái tạm gác chuyện lên nương, đổ xô về chợ dạo chơi, hẹn hò bạn tình thường đông hơn kẻ thật sự có nhu cầu trao đổi mua bán. Phải chăng họ xuống chợ vì muốn làm sống lại phiên chợ quê nhà nhằm khỏa lấp khoảng trống tinh thần của người lưu lạc, xa xứ?
Chả trách người Kinh ở xã Chà Cang cứ hay gọi phiên chợ Vàng Lếch là chợ tình: tình hoài hương, tình đồng loại, tình yêu trai gái...

Du lịch, GO! - Theo Trần Thế Dũng (báo Tuổi Trẻ), ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống