Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Thursday, 14 March 2013

Suối Giàng cách trung tâm huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái khoảng 12km, có độ cao 1.370m so với mặt nước biển. Quanh năm mát mẻ, vào mùa đông sương mù mờ mịt, đi lên núi ngỡ như đi trong mây. Nơi đây nổi tiếng với trà cổ thụ Suối Giàng.

< Đường lên đỉnh Suối Giàng trải qua nhiều dốc, đèo...

1- Chúng tôi lên đỉnh Suối Giàng vào khoảng 10 giờ sáng, nhưng nơi đây ngỡ như mới hừng đông, không một giọt nắng vàng sưởi ấm. Sương mù còn lãng đãng dưới chân, mưa bụi lớt phớt, càng làm cái lạnh miền Tây Bắc vừa mơn man vừa se lạnh ngọt ngào thấm sâu vào da thịt cảm giác dễ chịu của tiết trời vào thu.

Rừng Pơmu bên kia đồi được mệnh danh là rừng vàng của núi rừng Suối Giàng mờ trắng trong mây. Dưới kia, thác Tập Lang rì rào một dòng trắng xóa như dải lụa vắt ngang lưng trời. Lờ mờ dưới chân núi, cánh đồng Mường Lò trải rộng một màu xanh. Cánh đồng lớn thứ nhì vùng Tây Bắc.

Thật thú vị khi chúng tôi vào một cửa hàng bán trà, ngoài đặc sản trà, còn có những tảng đá trên đỉnh Suối Giàng với nhiều vân đá tự nhiên tuyệt đẹp để du khách ngồi uống trà. Những giò lan vùng cao tươi thắm đong đưa trong gió từ đại ngàn mang cái giá rét thổi về lồng lộng. Giữa tiết trời lạnh giá mà ngồi nhấp nháp ngụm trà đậm đà hương vị Tây Bắc, cái hậu ngòn ngọt của trà Suối Giàng vẫn thấm sâu mãi trong lòng. Trà như ngon, như ngọt thêm khi cô gái trong bộ y phục người Mông súng sính duyên dáng, cứ nhoẻn miệng cười lúm đồng tiền xinh xắn, thỏ thẻ mời khách uống trà.

“Cây trà có hơn 500 năm tuổi, hấp thụ tinh túy của đất trời thêm xanh tươi, không hề có bón phân làm mất chất thuần khiết tự nhiên, tạo nên hương vị độc đáo của trà mang cốt cách tiên. Ai uống trà Suối Giàng như hấp thụ cả tinh túy của đất trời”, những lời như rót mật của cô gái và đôi tay dịu dàng thoăn thoắt rót trà, khiến chúng tôi không ai từ chối được. Hết bình trà này đến bình trà khác, khách mềm môi chẳng khác nào như uống rượu nồng nàn, lơ mơ say ngỡ đang lạc cảnh non bồng.

Chủ quán, một người dưới xuôi lên đây lập nghiệp đã hơn 10 năm, tâm đắc kể cho chúng tôi nghe về truyền thuyết của trà Suối Giàng mà anh được nghe những người lớn tuổi nơi đây kể lại: “Hơn 500 năm trước, trên đỉnh Suối Giàng xuất hiện 2 vị đạo sĩ đến đây đánh cờ. Hai ông say mê chơi cờ suốt mấy ngày liền, mặc cho trời giá rét. Thấy vậy, một cô gái trên đỉnh Suối Giàng đi hái những búp non trà mọc đầy trên đỉnh núi, pha trà mời các ông uống giải khát.

Vị trà quá ngon, càng uống, càng thấy tinh thần tinh tấn, ngồi chơi cờ suốt mấy ngày liền cũng không thấy mệt. Cô gái cho biết, do nấu trà bằng nước suối Tập Lang tinh khiết không chút mùi bùn trên đỉnh cao, còn lá trà được hấp thụ khí trời thuần khiết của mây mù gió núi, tạo nên hương vị độc đáo. Từ đó, hai vị đạo sĩ thường xuyên lên đỉnh Suối Giàng chơi cờ và thưởng thức hương vị khó quên của trà Suối Giàng.

2- Ngoài kia, con đường trải nhựa thoai thoải dốc, các cháu học sinh đi học về, những chủ nhân tương lai của đỉnh Suối Giàng. Những học sinh người Mông tung tăng trong chiếc cặp trên tay, miệng líu lo nói cười. Trường học đã lên đến núi cao, cũng có nghĩa là tri thức, văn minh đã đến với bà con nơi đây, những người mà từ xa xưa chỉ biết có rẻo cao và đồi núi chập chùng cheo leo.

< Người ta nói: "Đàn ông mặc áo vest hái chè, vị sẽ khác, mà thiếu nữ mặc váy ngắn hái chè vị lại càng khác".

Những cô gái Mông trong y phục cổ truyền, với những gam màu đỏ trong nền đen nổi bật giữa bầu trời mây mù. Đôi má ửng hồng, nét duyên dáng tự nhiên mà quyến rũ của người vùng cao mùa sương lạnh. Những bước chân mạnh mẽ của họ như không hề biết cái lạnh đang vây quanh, trên lưng gùi thực phẩm vừa mua về nhà sau khi bán hết gùi búp chè tươi.

Một cô gái cho biết họ mang nụ trà tươi đã hái từ khi gà rừng vừa gáy báo sáng để đem bán cho nhà máy chế biến. Đi hái trà vào thời điểm này tuy có lạnh, sương mù dày đặc dễ bị cảm lạnh, nhưng bù lại Nhà máy trà Suối Giàng sẽ mua giá cao vì búp trà còn ủ hơi sương, đảm bảo chất lượng trà thơm ngon, có hậu ngọt.

Bởi vậy, khi hái trà, cả nhà cùng làm, người trẻ bắt thang hái trên cao, người già hái dưới thấp, trẻ con nhẹ nhàng đu hái những búp ngoài xa. Để giữ được hương vị độc đáo của trà Suối Giàng mà không trà xứ nào có được, người trồng trà cũng nhọc nhằn vô cùng. Anh Giàng A Chiến, nguyên Giám đốc Nhà máy trà Suối Giàng, cho biết thêm: Trà Suối Giàng còn có khả năng chữa bệnh, giúp bồi bổ cơ thể chống các chứng bệnh tim mạch, thấp khớp… Bởi vậy trà Suối Giàng được các doanh nhân Nhật Bản bao tiêu toàn bộ. Do vậy, số lượng trà Suối Giàng bán trong nước không được bao nhiêu.

3- Hai người phụ nữ Mông sau khi bán xong gùi búp trà, dừng lại trước một quầy thực phẩm bên đường để mua hàng. Họ cứ mãi đếm tới đếm lui số tiền cầm trên tay, rồi suy nghĩ, rồi nhoẻn miệng cười như mếu, lắc đầu: “Không đủ tiền mua rồi”. Tôi hỏi bán búp trà được bao nhiêu tiền mà nửa ký đường cát không đủ tiền mua.

Cô gái thiệt thà trả lời: “Hôm nay hái 5kg, bán được 35.000 đồng. Đó là loại hảo hạng, toàn búp non tơ hái từ khi gà vừa gáy sáng, hái xong mang đi bán liền, nhựa còn tươi mới bán được 7.000 đồng/kg, còn loại dở hơn, chỉ bán được 5.000 đồng/kg thôi. Mà đâu phải ngày nào cũng có búp trà để hái bán, 4 - 5 ngày mới hái một lần, chỉ đủ tiền mua vài ký gạo”. Tôi ngỡ như mình nghe lầm, bèn hỏi lại, cô gái trả lời y vậy, còn giải thích thêm: “Người trồng trà Suối Giàng còn nghèo lắm, chỉ có mấy người dưới xuôi lên đây mua bán trà mới giàu, mỗi ký trà thành phẩm họ bán từ 200.000 đến 500.000 đồng”.

Tôi không khỏi chạnh lòng khi biết cuộc sống của bà con nơi đây còn nhiều khó khăn. Bóng các cô gái Mông đã khuất xa sau đồi Pơmu, nhưng tôi vẫn còn thẫn thờ nhìn theo với cả nỗi lòng thương cảm. Anh Giàng A Giao, Phó Chủ tịch xã Suối Giàng, thấy tôi cứ mãi ngẫn ngơ dưới cơn gió lạnh, anh nắm tay tôi vào nhà anh gần đó, rót trà mời khách, Giàng A Giao cũng ngậm ngùi: “Trên đỉnh Suối Giàng này có 300 hộ đồng bào dân tộc Mông, với hơn 2.500 nhân khẩu, chủ yếu sống nhờ vào cây trà.

Ngày xưa, cây trà cổ thụ nhiều lắm, nay chỉ còn khoảng 340ha cây trà, nhưng thời gian qua có một số người dưới xuôi lên đây mua cây trà cổ thụ làm kiểng. Nhiều người dân Suối Giàng ham tiền bán cây, làm rừng trà thưa đi rất nhiều”.

Giàng A Giao chậc lưỡi xót xa: “Là giống trà cổ thụ, phát triển tự nhiên, không bón phân, nên số lượng búp trà cũng ít lắm, lại bị ép giá nên người trồng trà không thể nào vươn lên khá được, hàng năm có đến 170 hộ phải cứu đói mùa giáp hạt”. Tôi hỏi anh có phương án nào giúp người trồng trà Suối Giàng thoát nghèo, A Giao trầm ngâm: “Trước kia chúng tôi có hợp đồng với Công ty chè Văn Hưng bao tiêu sản phẩm theo giá thị trường, nhưng công ty này mỗi năm chỉ tiêu thụ khoảng 100 tấn, mà sản lượng búp tươi nơi đây khoảng 500 tấn/năm, rốt cuộc số lượng thừa đó cũng bị tư thương ép giá.

Để tự cứu đói, người Suối Giàng đã trồng thêm lúa và bắp. Nhưng vẫn còn quá ít, chỉ khoảng 270ha bắp, 68ha lúa, vì trên đỉnh núi muốn có một hécta lúa nước phải bỏ công khai phá rất nặng nhọc”.

Tạm biệt đỉnh Suối Giàng, quê hương của những cây trà cổ thụ trăm năm, chúng tôi không khỏi ngậm ngùi trước cuộc sống nghèo nàn của bà con nơi đây. Sự xuất hiện của cây lúa, cây bắp trên núi cao, tuy chưa nhiều, nhưng dẫu sao cũng nói lên sự mất dần ưu thế của cây trà cổ thụ đang biến dần thành cây kiểng. Không khéo ngày nào đó, lên đỉnh Suối Giàng mà không có trà cổ thụ, muốn biết trà cổ thụ Suối Giàng ra sao, chắc phải về phố thị mà tìm!

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Tường Lộc (SGGP), ảnh internet
Chùa Dư Hàng (tên chữ là Phúc Lâm tự), thuộc xã Dư Hàng Kênh (huyện An Dương), nay thuộc đại bàn phường Hồ Nam, quận Lê Chân. Nếu căn cứ vào bản ghi chép bia ký của chùa Dư Hàng thì chùa có nguồn gốc từ thời Tiền Lê (980 - 1009).

Cuối thời vua Lê Đại Hành đã có vị sư tổ đến đây thuyết pháp, khia sáng giáo lý nhà Phật. Đến thời Trần (1225 - 1400), các vị sư tổ thiền phái Trúc Lâm do Trần Nhân Tông sáng lập ở Yên Tử Sơn, đã có mối quan hệ với bản chùa Dư Hàng...

Vì vậy, từ xưa đến nay, chùa Dư Hàng vẫn truyền lệ kỷ niệm sinh nhật vị sư tổ đệ nhất "Đền ngự giác hoàng tinh tuệ thiền sư" tức vua Trần Nhân Tông vào ngày 2/11 Âm lịch. Vị tổ thứ 3 của phái Trúc Lâm là thiền sư Huyền Quang Lý Đạo Tái vào ngày 3/11 Âm lịch.

Đến đời vua Lê Gia Tông (1672), sư cụ Nguyễn Đình Sách (tự là Chân Huyền) đã xuất tiền để tậu ruộng đất, làm chùa to rộng, có đủ gác chuông, nhà thờ tổ, nhà tăng... Từ đó trở đi, dù phải trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, ngôi chùa đã được các thế hệ hòa thượng, tăng ni, tín đồ phật tử sở tại chung sức, chung lòng sửa sang chùa ngày thêm khang trang, đẹp đẽ.

So với nhiều ngôi chùa thờ phật ở Hải Phòng, chùa Dư Hàng có kiến trúc bề thế, khuôn viên hoàn chỉnh, gồm tòa phật điện 7 gian, gác chuông cao 3 tầng, mái đao cong vút, quả chuông đồng cỡ lớn, chữ đề: "Phúc Lâm tự chung", nghĩa là chuông chùa Phúc Lâm.

Tại tòa Phật điện, hiện còn lưu giữ được nhiều pho tượng phật cổ có giá trị, tạo hình chuẩn xác như bộ Tam thế, tòa Cửu long - Thích ca sơ sinh, hộ thiện, trừ ác, bộ tượng "Thập điện minh vương"...

Nội thất tòa phật điện được trang trí nhiều bức hoành phi, câu đối, cửa võng sơn son, thếp vàng rực rỡ, đường nét mềm mại, kỹ thuật tinh xảo, được thể hiện qua các mảng đề tài hoa lá, cỏ cây, muông thú, mang phong cách nghệ thuật triều Nguyễn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.

Gian tiền đường của tòa phật điện được trang trí bằng nhiều mảng chạm khắc nổi trên cửa võng, nhiều mảng đề tài quen thuộc: mai điểu, ngũ phúc, rồng mây... thể hiện ước muốn của muôn dân cho "mưa thuận, gió hòa, cỏ cây tươi tốt", hộp hình khắc gỗ mô tả cảnh thầy trò Đường tăng trên đường sangTay Trúc thỉnh kinh.

Hiện nay, chùa Dư Hàng còn bảo lưu nhiều di vật quí giá như chuông, khánh, đỉnh đồng, đồ trang trí mỹ thuật bằng gốm sứ, đá xanh, bộ kim sách "A hàm" cổ được lưu truyền từ nhiều đời sư trụ trì.

Tại khu vườn tháp tĩnh mịch, rợp mát bóng cây cổ thụ xanh tươi, ngoài nhóm mộ tháp các vị sư tổ đã viên tịch lại bản chùa còn có mộ tháp chứa xá lỵ các vị tổ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, tháp sư cụ Chân Huyền và nhiều vị hòa thượng đã từng trụ trì tại ngôi chùa Dư Hàng.

Năm 1962, tại chùa đã diễn ra một sự kiện quan trọng, gắn liền với phong trào đấu ranh yêu nước, đòi quyền dân sinh, dân chủ của tăng ni, phật tử cùng dôngddaro học sinh, thầy giáo, thợ thuyền lao động. Họ đã tập trung tại chùa Dư hàng làm lễ truy điệu nhà yeu nước Phan Chu Trinh, khi cả nước được tin cụ mất tại Sài Gòn.

Sau Cách mạng tháng Tám (1945), Hội Tăng già cứu quốc Hải Phòng đã làm lễ ra mắt tại chùa, điểm tổ chức "Tuần lễ vàng". Đồng thời các đoàn thể quần chúng cách mạng họp bàn việc đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường từ Pháp trở về Việt nam, ghé thăm đồng bào, chiến sĩ Hải Phòng.

Suốt 9 năm kháng chiến, chùa Dư Hàng đã mở rộng cửa thiền nuôi giấu cán bộ, ủng hộ kháng chiến qua phong trào "áo ấm mùa Đông" cho binh sĩ, lương thực nuôi quân. Có nhiều vị tu hành ở chùa đã hăng hái tòng quân cứu nước, tiêu biểu có cố hòa thượng Đinh Quang Lạc đã được Chính phủ trao tăgn Huân chương kháng chiến hạng Ba. Chùa Dư Hàng được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1986.

Trong sự phát triển của du lịch Hải Phòng, tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh là rất lớn và được chú trọng khai thác, trong đó chùa Dư Hàng là một trong những điểm đến trong tour du lịch nội thành. Chùa Dư Hàng với những giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc trường tồn cùng thời gian đã làm nên sức hấp dẫn của một điểm du lịch văn hóa tâm linh ở thành phố cảng.

Du lịch, GO! - Theo Haiphong.gov, ảnh internet
Vùng Quảng Khê nói riêng và Tây Nguyên nói chung, măng rừng rất nhiều. Người ta làm ra những món ăn phong phú từ măng. Canh măng rừng là món ăn lạ miệng, mang đặc trưng của vùng này.

Ở Tây Nguyên, những vùng đất màu mỡ, người ta trồng cà phê, hoa màu. Vùng đất nào cằn cỗi, không có nguồn nước tưới, bị bỏ hoang thì trở thành nơi phát triển của tre rừng hoang dã. Mùa mưa, người ta chặt măng tre về để thay đổi khẩu vị trong bữa ăn. Măng tươi dùng không hết thì luộc, làm chua để dành. Hiện nay, nếu ăn canh măng chỉ được ăn măng nghịch vụ, đã qua sơ chế.

Măng rừng luộc hay làm chua có mùi hăng hăng, vị đăng đắng. Nếu không quen, thực khách khó nuốt nổi. Nhưng cứ ăn thử một vài miếng, khách đâm ghiền. Canh măng rừng nơi đây nấu khá giống canh mẳn của người Bắc, lai canh chua của miền Tây.

Canh chua măng rừng được nấu với cá hoặc thịt. Tận dụng nguồn cá tươi bắt được từ các hồ, các hàng quán thường nấu măng rừng với cá, ngon nhất là nấu với cá lăng. Canh măng rừng không dùng nhiều gia vị, chỉ với hương vị tự nhiên đã tạo ra vị độc đáo. Cái mùi hăng và vị đắng kết hợp với vị béo ngọt của cá tự nhiên thì không lẫn vào đâu được. Càng ít gia vị, món ăn càng ngon và mang tính riêng.

Băng rừng chinh phục con thác mệt bở hơi tai, giữa trưa đói bụng gặp món canh chua măng rừng thì khách ăn thỏa thích. Canh chua măng rừng ăn với cơm trắng - được nấu từ gạo nương thì hết ý. Người dân bản địa trồng lúa theo mùa, gần như không có thuốc trừ sâu, hóa chất. Năng suất không cao. Phần lớn là trồng để dùng gia đình chứ ít khi mang ra bán chợ. Vì thế, ăn được cơm nấu từ gạo nương là điều không phải ai cũng được hưởng.

Du lịch, GO! - Theo ĐỨC NGUYỄN (Cần Thơ Online)

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống