Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Sunday, 17 March 2013

Đèo Bông Lau là một con đèo hiểm trở thuộc vòng cung Đông Bắc, nằm trên quốc lộ 4A đoạn giữa huyện Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn) và huyện Thạch An (tỉnh Cao Bằng).

< Đèo Bông Lau với rất nhiều khúc cua tay áo, dốc cao.

Đây là một đoạn đèo ngắn (chỉ hơn 6km nếu tính từ Vực Lũng Phầy) nhưng quanh co xuyên giữa núi rừng với một bên là núi cao rừng rậm, còn bên kia là vực sâu thăm thẳm. Trong chiến tranh, đây là địa hình rất thuận lợi cho quân ta đánh phục kích nhưng ngày nay lại là nơi dễ xẩy ra tai nạn giao thông nghiêm trọng, phần lớn do tài xế xe tải chủ quan trong lúc cho xe đổ đèo.

< Bia kỷ niệm Chiến Thắng trên đèo Bông Lau.

Đèo Bông Lau với nhiều khúc cua ngoặc tay áo rất gấp vòng quanh những triền núi dốc dựng. Ở khu vực đèo: cỏ lau bạt ngàn trải dài theo triền dốc, lau ngạo nghễ trên các vách đá cao, lau giăng giăng hai bên đường như những hàng quân, lau phất phơ mầu xám bạc đặc trưng của mình trên nền trời xanh thẫm của núi rừng phóng khoáng.

Tại đây (đoạn Bông Lau – Lũng Phầy), trong chiến tranh Đông Dương vào cuối năm 1949, đã diễn ra nhiều trận đánh lịch sử giữa trung đoàn 174 (tức trung đoàn Cao Bắc Lạng, Quân đội Nhân dân Việt Nam) với quân Pháp - mở đầu đợt 2 chiến dịch Cao – Băc – Lạng (từ ngày 15-3 đến ngày 30-4-1949) nhằm tiêu diệt sinh lực, phá việc vận chuyển tiếp tế của địch từ Lạng Sơn lên Cao Bằng.

Các sáng tác nghệ thuật về con đèo này có thể kề như bài hát 'Đèo Bông Lau' được nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác vào năm 1948, bức tranh sơn dầu 'Đèo Bông Lau' do họa sĩ Phan Kế An vẽ năm 2004.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, bây giờ con đèo Bông Lau vẫn bình yên uốn lượn như một thân tàu chở cả rừng lau vào núi xa thăm thẳm...

Du lịch, GO! Tổng hợp

Saturday, 16 March 2013

Huế có một khu du lịch sinh thái tuyệt đẹp mà không phải khách thăm quan nào cũng biết. Đó là vườn chùa Huyền Không Sơn thượng, thuộc địa phận thôn Nham Biền, huyện Hương Trà, cách Huế khoảng 10 km.

Từ trung tâm thành phố, đi ngược lên vùng ngoại ô Kim Long, ngang chùa Thiên Mụ rồi vòng qua một ngôi làng nhỏ, những con đường đất gập ghềnh, những vườn rau, cánh đồng lúa dập dờn, bạn sẽ đến núi Chằm. Một con đường đất đỏ dẫn lên núi, nơi có ngôi chùa, nằm giữa những hàng thông cao vút và ríu rít tiếng chim.

< Đường lên chùa Huyền Không Sơn thượng.

Hơn chục năm về trước con đường lên Huyền Không Sơn Thượng mới chỉ là con đường dất nhỏ bé, chạy ngoằn nghèo giữa những khu rừng thông với đá núi gập ghềnh. Lúc đó khi đến đây, tôi đã rất thán phục công sức của các nhà sư chỉ bằng những chiếc xe kéo nhỏ đã đưa được vật liệu lên đây để xây dựng nên ngôi chùa. Bây giờ thì con đường nhỏ ngày xưa đã trở thành một con đường bê –tông khá lớn, ô tô có thể vào được, trong chùa còn có cả nơi để xe ô tô và xe máy dành cho khách tham quan đến thăm chùa.

< Một cây cầu gỗ bắc qua dòng suối nhỏ nở đầy bông súng tím ngát đưa khách bước vào Thanh tâm viên, sân trước toà Phật điện. Bước vào phía trong là một khu vườn xanh ngắt với những cảnh quan kỳ ảo, đẹp như trong chuyện cổ tích.

Khuôn viên chùa là một khu vườn xanh ngắt với những cảnh quan kỳ ảo, đẹp như trong chuyện cổ tích. Một cây cầu gỗ bắc qua dòng suối nhỏ nở đầy bông súng tím ngát đưa khách bước vào Thanh tâm viên, sân trước toà Phật điện. Những dò hoa phong lan quí hiếm, được chọn trong 500 giỏ lan quý nuôi trồng ở vườn dưới sân chùa, được thay đổi mỗi ngày, với đủ sắc màu rực rỡ, đua sắc, khoe hương.

Những cây sứ, thiên tuế, tùng, bách…cổ thụ hàng trăm năm tuổi, điềm đạm xòe những tán lá rậm rạp, ung dung che chở nắng gió cho những khoảng sân và lối đi lát gạch Bát Tràng màu nâu đỏ. Đây đó, dưới bóng những cây tre ngà lao xao, khu rừng trúc um tùm là những bộ bàn ghế để khách nghỉ chân, tận hưởng sự yên ả thanh bình nơi cửa Phật.


< Cửa vào Phong Trúc Am:
"Cửa không mây níu áo hiền nhân,
Ngõ trúc sương len hồn trí giả".


Yên Hà Các nằm bên phải Phật điện, với những đường nét kiến trúc uyển chuyển, là nơi đón khách. Mái ngói, cột trụ, nội thất đều có màu cánh gián của phong cách Nhật Bản, giản dị nhưng sang trọng. Bộ bàn ghế thấp, bình trà nghi ngút hơi bên những cái chén nhỏ, tạo nên một không gian giản dị mà đầm ấm. Chợt thấy như mình vừa trở về nhà sau một chặng đường dài.

Băng qua khu vườn trúc, khách sẽ đến am Mây Tía. Đây là nơi những người yêu thích văn chương thi phú tìm đến để đàm đạo, bình thơ, ngắm gió trăng mây núi, là nơi các nhà thư pháp tập họp để luyện bút, phô chữ…

< Nếu biết rằng vị sư trụ trì chùa, Thượng tọa Giới Đức - Minh Đức Triều Tâm Ảnh cũng là một nhà thơ, một nhà thư pháp tài hoa thì bạn sẽ không ngạc nhiên khi nhìn thấy thư pháp hiện diện khắp nơi, khắc trên đá trong vườn, chạm trên gỗ, trang trọng treo trên tường, ghi trên cột cổng… Đó là những lời Phật dạy, những điều hay lẽ phải răn đời và răn người, là những cảm xúc bất chợt của các cây bút, là những bài thơ của các nhà thơ nổi tiếng.

Vì lẽ đó, thư pháp hiện diện khắp nơi, khắc trên đá trong vườn, chạm trên gỗ, trang trọng treo trên tường, ghi trên cột cổng tam quan. Đó là những lời Phật dạy, những điều hay lẽ phải, cảm xúc bất chợt của các cây bút, những bài thơ của các nhà thơ nổi tiếng.

< Nhà thủy tạ cũng là nơi trưng bày thư pháp.

Con đường nhỏ phía sau tăng xá (nhà ở) dẫn đến một khu rừng thông cổ thụ rậm rạp trên ốc đảo giữa hồ Hàm Nguyệt Trì. Đây là nơi diễn ra những cuộc triển lãm thư pháp trong thời gian Huế tổ chức festival. Trên mỗi cây thông có gắn một cái giá bằng gốc tre. Đêm đêm, những chiếc đèn dầu đặt trên đó tỏa ánh sáng mờ ảo, hư hư thực thực, đầy quyến rũ. Bên kia hồ, ngôi nhà thư pháp lợp tranh nằm dưới chân núi, trầm tư soi bóng xuống mặt hồ quanh năm thơm ngát hương sen. Mặt trước nhà thư pháp có một chữ "Thiện" bằng gốc tre, sản phẩm tinh xảo của một nghệ nhân Huế, giản dị mà lạ mắt và rất đẹp.

Bên phải Phật điện là Phong Trúc Am, được dùng làm nơi đón khách. Đó đây, dưới bóng những cây tre ngà lao xao hay trong khu rừng trúc um tùm là những bộ bàn ghế giả gỗ để khách ngồi nghỉ, tận hưởng sự yên ả thanh bình nơi cửa Phật. Nếu muốn bạn cũng có thể xốc ba lô lên vai, men theo những con đường mòn nhỏ leo lên những sườn núi xung quanh để từ đó thỏa thích ngắm nhìn toàn bộ thung lũng dưới tầm mắt của mình.

< Những thảo am nhỏ nằm trên lưng chừng núi.

Bên trái ốc đảo là hồ Lãm thượng, tím ngát hoa bèo tây. Khách thường đi trên Lãm thượng kiều (cầu Lãm thượng) để ra ốc đảo giữa hồ, nơi có chòi tranh nho nhỏ, để vừa ngắm những bông sen e ấp nở, vừa trải tầm mắt nhìn sang những am nhỏ lưng chừng núi. Thưởng ngoạn cảnh sắc nơi này, lắng mình trong không gian tĩnh lặng, chợt thấy tâm hồn bình an kỳ lạ.

Về Huyền Không Sơn Thượng, giữa đất trời bao la, được trải lòng mình ra với thiên nhiên, để một phút sống thật với chính mình… là những cảm xúc không dễ gì bạn bắt gặp nơi ồn ào, náo nhiệt của chốn thị thành.

Du lịch, GO! - Tông hợp từ Phụ Nữ online, Du Lịch Huế
Những “đàn gia súc” của Hoàng Vần Thùng đang vần vũ di chuyển biến thành đá, là những đống đá lớn hiện nay còn lại ở xã Xuân Minh.
Đúng như Vần Kim Hưởng nói, anh có thể là người Làng Giang (Thông Nguyên, Hoàng Su Phì, Hà Giang) đầu tiên đặt chân lên Thăm Kỳ trong hàng chục năm nay. Các hang núi khác cách Thăm Kỳ vài trăm mét thì bà con rất hay leo vào khám phá, nhưng Thăm Kỳ là nơi được đặc biệt kính cẩn.

Theo truyền thuyết và tâm thức của người Tày mà già làng Nguyễn Văn Minh ghi chép lại, chủ nhân của kho vàng trên núi đá Thăm Kỳ là ngài Hoàng Vần Thùng (Hoàng Văn Đồng), “vua” của người Tày.

Không ai nhớ rõ vị thủ lĩnh này sinh sống trong thời nào, chỉ biết rằng rất xa xưa, tương truyền Hoàng Vần Thùng sinh ra đã có tài lạ, sức khỏe hơn người, có chí làm vua nên quyết đi tìm, cùng thủ lĩnh Nhạc Thái Nhĩ thi thố tài năng.

Ông cưỡi voi lớn đi trước, dùng phép lạ đem rất nhiều trâu bò dê ngựa theo sau. Dọc đường, dừng chân nghỉ thì thấy có một người đàn bà có chửa đi tới, ông bèn hỏi: “Có thấy đàn trâu đàn dê của tôi đi sau không, đến đâu rồi?”. Người đàn bà chửa đáp: “Ố, không thấy đâu. Nhưng đá lớn thì nhiều lắm, đang lăn đuổi theo phía sau kìa”. Lập tức, những “đàn gia súc” của Hoàng Vần Thùng đang vần vũ di chuyển biến thành đá, là những đống đá lớn hiện nay còn lại ở xã Xuân Minh (Hoàng Su Phì).

Ông Hoàng Vần Thùng đi thi thố, thiếu quân, bị lừa mà thua cuộc. Ông bị truy sát đến tận Làng Giang bây giờ, phải vào hang Thăm Kỳ ẩn náu. Sau này ông chết, tất cả những thứ còn lại của ông đều bị hóa đá như voi đá, thuyền đá, thùng đá, kho thóc đá… nằm rải rác ở Hoàng Su Phì.

< Vần Kim Hưởng không dám lại gần tượng voi thiêng.

Xác của vua Hoàng Vần Thùng bị mang đi qua bên kia biên giới. Nhưng hễ dừng chân thì quan tài liền bị mối đất vây quanh; treo lên cây thì nửa đêm cột mối cũng dựng cao lên cả mét.
Đến đất Mã Quan, người ta đành phải treo quan tài lên thật cao. Điều kỳ lạ nữa, hễ nghe thấy tiếng Tày thì trong quan tài lại phát ra những tiếng rên rỉ tang thương như hờn oán.

Về sau, người Tày cho rằng những người đang có chửa xung khắc với vua Hoàng Vần Thùng, nên người tham gia nghi lễ thờ cúng ông đều không được liên quan gì tới người có chửa. Không chỉ thường dân, ngay cả thầy cúng chủ lễ có người thân của phụ nữ có chửa cũng bị loại khỏi buổi cúng.
Liên quan đến vua Hoàng Vần Thùng, ngoại trừ hang vàng huyền bí, còn có con voi đá được người Tày địa phương cực kỳ sùng kính. Đó là con voi vàng của vua Hoàng Vần Thùng cưỡi, khi ông mất thì biến thành một khối thạch anh hình voi khổng lồ màu trắng vàng hiện nằm trên đất Làng Giang.


< Chiếc thuyền hóa đá trên suối Làng Giang.

Dẫn tôi đến thăm voi đá, Vần Kim Hưởng chỉ dám đứng xa thầm thì nói khẽ, mà không dám lại gần. Định ghi hình anh ta bên voi đá, nhưng Vần Kim Hưởng lắc đầu tránh xa ra ngoài.

Vẫn bằng chất giọng nhỏ nhẹ, trầm trầm, già làng Nguyễn Văn Minh kể cho khách nghe câu chuyện mà người dân Làng Giang nào cũng biết: “Tượng voi đá trước kia nằm trong khuôn viên um tùm cây cối, râm mát. Trước mặt voi là một hồ nước rộng lớn, trong xanh thấy đáy.

Một ngày, có cặp vợ chồng trẻ ở bản bên đi qua Làng Giang. Thấy rừng cây xanh mát, bèn ngồi lại nghỉ ngơi, ra hồ nước rửa tay chân. Rồi họ cùng ào xuống hồ tắm táp nô đùa. Sau đó, họ trèo cả lên mình voi, rồi tựa vào vòi voi mà làm cái việc các cặp vợ chồng trẻ hay làm khi cao hứng.


< Tượng voi đá bị đất cát vùi lấp nhưng vẫn được người dân Làng Giang kính ngưỡng.

Trở về nhà, cả hai lăn ra ốm. Đến hỏi thầy cúng. Thầy cúng bảo, do làm những việc báng bổ voi thiêng, nên bị thần trừng phạt. Thương vợ, cơn giận bừng bừng nổi lên, người chồng vùng chạy đến voi thần nặng lời phỉ báng, rồi vác chày vác đá đánh voi, đập gãy vòi voi.

Theo già làng Nguyễn Văn Minh, tượng voi đá vốn to lớn sừng sững, cao chừng 4-5m, có đầy đủ đầu, vòi, tai hệt như voi thật. Khoảng năm 1959, ở Làng Giang có trận sạt lở đất lớn, vùi lấp phần lớn tượng voi, nên hiện nay chỉ cao chừng vài mươi phân như vậy. Chiếc vòi voi bị gẫy bây giờ vẫn nằm nguyên vẹn dưới đất, ngay trước đầu voi. Còn gia tộc của người trai đó đến nay không còn một ai thờ tự. Người ta tin đó là hậu quả của việc báng bổ voi thiêng của thần giữ của núi Thăm Kỳ.

Không tin lắm vào câu chuyện đậm màu sắc hoang đường ấy, chúng tôi tìm đến ông Hoàng Ngọc Lâm, 85 tuổi, người Tày, nguyên Bí thư huyện ủy Hoàng Su Phì để tìm hiểu thêm. Bà ngoại của ông Lâm vốn là người Tày ở Thông Nguyên, nên từ bé ông đã sống ở vùng này, thông hiểu rất nhiều phong tục, sự tích.

“Từ ngày còn nhỏ xíu, tôi đã được người già khuyên răn phải kính cẩn với những ngọn núi quanh vùng, vì ít nhiều chúng đều gắn bó với ngài Hoàng Vần Thùng. Thăm Kỳ cùng một ngọn núi khác ở Chiêm Hóa (Tuyên Quang) được coi là hang vàng của thần.

Nhưng về gia tộc bị tuyệt diệt vì xâm hại tượng voi đá, tôi đã đi tìm hiểu quanh vùng, hỏi người Mông, Dao, Tả Pan… nhưng không ai biết được trường hợp cụ thể nào cả. Dường như chỉ là đồn đại”. Theo hồi ức của người già uy tín ở vùng đất Hoàng Su Phì này, trước kia, ông từng biết về một thầy cúng tên là Vương Pú Ương, cả đời thờ phụng hương khói cho con voi này. Ông Pú Ương dáng người mập lùn, sống khép kín trong ngôi nhà dựng bên tảng đá hình voi.

Nhưng ông cũng chan hòa với dân bản, có lần còn ham vui trong đám cưới tới mức say rượu lăn cả xuống suối. Khi ông Pú Ương mất đi, ở tuổi 80, không còn ai coi sóc, nên voi mới bị xâm hại. Rất có thể khi chiếc hồ rộng bị đất núi lở ra bồi lấp thành bãi bằng, bà con hay tụ tập đánh cù đánh quay, vô tình làm gãy vòi voi chứ không phải như trong câu chuyện về cặp vợ chồng táo gan nọ.

< Ông Hoàng Ngọc Lâm tin rằng kho vàng Thăm Kỳ chỉ có trong tâm thức.

Ông Lâm cũng từng tìm hỏi về con cái của Pú Ương, nhưng trải qua nhiều biến thiên, gia tộc của ông Ương không còn người nữa. Chỉ có người con gái út của ông Pú Ương là già Đơi, lấy chồng bên xã Nậm Lìn, cũng đã mất năm 2000, ở tuổi 90.

Từng đi khắp các thôn bản của huyện Hoàng Su Phì, tiếp xúc với nhiều đồng bào dân tộc ở Hà Giang và các vùng đất khác, ông Hoàng Ngọc Lâm cho rằng, Hoàng Vần Thùng không chỉ là vua của người Tày, mà cả người Clao, La Chí, Nùng… đều coi ông là vị vua huyền thoại. Mỗi dân tộc đều có những truyền thuyết khác nhau về thân thế và sự nghiệp của nhà vua. Theo ông Hoàng Ngọc Lâm, người Tày ở Hoàng Su Phì coi hóa thân của Hoàng Vần Thùng ở ba ngọn núi thiêng, là Khau Phia (“Sừng đá”, ở xã Tuyên Nguyên), Khau Cùn (“Sừng dại dột”, xã Xuân Minh) và Khau Chang (“Sừng giữa”, ở Cổng trời Nậm Ty). Cả ba đều là những thần núi bảo hộ cho người Tày, đến nay vẫn được người dân tôn kính.

< Núi lớn Thăm Kỳ.

Điều đó cũng có nghĩa, một con người huyền thoại, do trời đất sinh ra, được phong thần hóa thánh, thì những sự tích hay di sản còn lại của ông cũng ít nhiều liên quan tới tín ngưỡng, tâm linh. Trở lại câu chuyện “hang vàng thần thánh”, trừ trường hợp được khai quật toàn bộ hàng ngàn tấn đá vỡ dưới chân Thăm Kỳ, có thể tạm coi là kho vàng trong sự ngưỡng vọng, trong tâm thức của người tày địa phương mà thôi.

Du lịch, GO! - Theo VTC, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống