Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Monday, 2 July 2012

"Dính câu rồi. Chắc to đây, nhìn nó kéo oằn dây câu là đủ biết", sau câu reo của anh Hải, nhóm người hiếu kỳ kéo đến xem cá. Bờ sông dọc đại lộ Võ Văn Kiệt đoạn qua quận 5, TP HCM, nhộn nhịp hẳn dù đồng hồ đã chỉ 23h.

< Các cây cầu trên đường Phạm Thế Hiển (quận 8), Nguyễn Văn Linh (quận 7) cũng được dân nghiện câu đêm chọn đến.

Do bờ và mép nước cạn khá xa nên thu dây câu chừng non một phút, anh thanh niên 25 tuổi nhà ở quận 6 mới kéo con cá lên bờ. Con cá trê to bằng cổ tay cắn câu giãy đành đạch, thân mình lấm lem bùn và cát. "Con này ít nhất cũng nửa kg. Hôm nay vô mánh rồi", Hải vừa nói vừa dùng chiếc khăn, cẩn trọng tháo con cá ra khỏi lưỡi câu rồi cho vào chiếc xô nước rọng cá đã được chuẩn bị sẵn.


Người hiếu kỳ và đám trẻ bu xem vừa trầm trồ vì con cá to. Cách đó vài bước chân, cũng trên kênh Tàu Hủ - Bến Nghé dọc theo trục đại lộ Võ Văn Kiệt, một nhóm câu khác nhộn nhịp không kém bởi anh Tuấn cùng lúc cắm 4 cần câu đã dính được một con cá trê khá to.

"Đã đến giờ cá ăn mồi nha bà con. Từ đầu hôm đến giờ chờ hoài không thấy, bây giờ cá bắt đầu cắn câu rồi đây", người đàn ông vừa cười nói, vừa nhanh tay móc lại mồi là một chú dế vào lưỡi câu rồi ném dây xuống nước. Sợi dây dài khoảng 30 mét tung xuống dòng nước đen thẳm vì xa ánh đèn.

Không may mắn như hai người bạn câu, Lâm Ngọc Tân nhà ở quận 8 thả dây gần một giờ đồng hồ mà vẫn chưa được con cá nào. Ngồi cùng Tân, anh Bảy nhà ở quận Tân Phú cũng chậc lưỡi, vỗ đùi tiếc nuối khi cá đã cắn câu nhưng lại giật trượt.

Tại Sài Gòn, thú câu cá đêm thường bắt đầu từ 19h và kéo dài đến nửa đêm, thậm chí đến 2h sáng. Dân câu cho biết, theo thói quen, sau khi rời công sở, họ về nhà tắm rửa và dùng cơm tối xong là lên đường. Hành trang cho chuyến đi câu là mấy chiếc cần, một hộp đồ nghề gồm dây câu, lưỡi câu, hộp mồi và chiếc thùng dành để chứa thành quả.

< Mồi câu thường là dế.

Nơi tập trung người câu đông nhất là kênh Tàu Hủ, cầu Bà Tàng quận 8, một số cây cầu trên đường Nguyễn Văn Linh quận 7. Sau khi đến bãi câu, những người đi câu chọn vị trí phù hợp, vị trí này thường đã được chọn sẵn. Người đi câu thường xuyên thuộc lòng và nhường nhau chỗ câu chứ không tranh giành. Chuyện "chỗ đó của anh Sáu, mỏm đá kia là của chú Tùng" như được dân câu đêm mặc định.

Giải thích cho việc tại sao không câu ngày mà lại câu đêm, anh Đỗ Minh Khiêm ở quận 6 cho biết, đơn giản chỉ vì đêm là lúc mọi người rảnh rỗi và cá dễ ăn mồi. "Tôi bắt đầu thú vui này đã hơn nửa năm và thật sự cảm thấy thích thú. Cả vợ tôi và nhóm bạn thi thoảng cũng có mặt cùng nhau câu cá", anh Khiêm nói.

< Cá cắn câu chủ yếu là trê và lóc. Tùy con nước và may rủi. Hôm may mắn, người câu có thể thu hoạch đến vài cân.

Cùng "mê" câu như anh Khiêm nhưng chọn điểm ở quận 7, Minh Tuấn cho hay, nhiều đêm trời mưa anh cũng mặc áo mưa hoặc cầm ô ôm cần. "Cảm giác cần rung lên khi cá cắn câu, hay kéo lê con cá to lên bờ thật thú vị. Tôi đã bỏ hẳn thói quen nhậu nhẹt cùng bạn bè để ra sông", Minh Tuấn nói.

Cá mà dân câu thu hoạch được chủ yếu là cá trê, loại cá da trơn, thịt dai, giá trị kinh tế không cao nhưng háu ăn nên dễ mắc câu. "Thi thoảng cũng có người câu được cá lóc (cá quả) nhưng số lượng không nhiều. Đêm nào trúng thì được 2-3 kg, không thì cũng đủ chế biến mồi lai rai cùng chúng bạn", anh Nam ở quận 8 cho biết.

Gọi là thú vui nhưng trong mươi người đi câu đêm có non nửa có thêm thu nhập nhờ nghề "chim trời cá nước". Ông Sáu nhà ở quận 4 là một trong số đó. Không cười đùa lúc câu như các bạn trẻ, ông Sáu chọn một góc riêng, lặng lẽ móc mồi, cắm câu. Mỗi đêm ông kiếm được gần 100.000 đồng tiền bán cá.

< Người trẻ xem câu cá đêm là thú vui. Nhưng một số người xem đây là kế sinh nhai.

"Tui già rồi, ở nhà cũng buồn. Ra đây ngồi chơi mà lại kiếm được tiền thì còn gì sướng bằng. Chỉ bữa nào bệnh tui mới nghỉ", ông Sáu nói.

Theo dân câu Sài Gòn, để thực hiện được thú vui, trước tiên người chơi phải sắm cần. Cần giá thấp nhất cũng có giá từ 1,5 triệu đồng. Nếu câu cá trê dùng lưỡi chuyên câu cá trê và câu cắm; câu cá lóc thì phải câu rê.

Du lịch, GO! - Theo Thiên Chương (VnExpress), internet


Chắc hẳn mọi người cón nhớ bộ phim Indiana Jones của Harison Ford với tập phim “Indiana Jones and the last Crusade”  ? Một trong những cảnh quay của bộ phim này được đóng ở một ngôi đền có một không hai trên thế giới mang tên Petra nằm ở quốc gia Jordan. Jordan không phải là một điểm đến du lịch dễ dàng dành cho du khách Châu Á bởi nhiều lý do : đường bay khó khăn, văn hóa tôn giáo, thủ tục visa và tất nhiên là sự lép vế về thương hiệu so với người láng giềng Ai Cập. Tuy nhiên, vẻ đẹp huyền ảo của Petra đã là nguồn động lực giúp tôi vượt qua tất cả trở ngại đó. 


 Vô danh trong con mắt Châu Á, quần thể kiến trúc Petra lại là một khu khảo cổ lừng danh trong giới phương Tây. Tuy đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ cổ đại, thành phố này bỗng dưng biến mất khó hiểu trên bản đồ chính trị trong vòng hơn 14 thế kỷ và được tìm lại vào đầu thế kỷ 19 nhờ công của một số chuyên gia Châu Âu. Chính vì bị trôn vùi trong đống hoang tàn lâu như vậy nên Petra khiến tôi liên tưởng đến câu chuyện cổ tích nàng công chúa ngủ trong rừng. Tại sao phải mất đến 1400 năm người ta mới tìm lại được Petra ? Bởi vì thành phố này được xây tại một vị trí địa lý quá hiểm trở và bí mật, nằm sâu trong một thung lũng đá, một vị trí quá lý tưởng để đóng các bộ phim truy tìm kho báu kiểu Indiana Jones. Bản thân đế chế La Mã hùng mạnh cũng đã từng một lần tấn công Petra nhưng thảm bại và các tướng quân đã thề không bao giờ quay lại đó nữa. Theo các chuyên gia, Petra bị lụi tàn không phải do bị xâm chiếm mà là do bị bỏ hoang. Còn nguyên nhân bỏ hoang thỉ chưa được làm sáng tỏ, một cuộc di tản vì bệnh tât ? Hay là do động đất ? 


 Sinh ra vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên (cùng thời với đế chế La Mã), những vực thẳm khổng lồ bằng đá đỏ và những khu thánh đường rộng lớn của Petra không có điểm chung gì so với những nền văn minh cùng thời điểm đó trên trái đất. Nhiều chuyên gia sử học và khảo cổ học cho rằng Petra xứng đáng được mệnh danh là kỳ quan thứ 8 của thế giới cổ đại, sánh ngang với kim tự tháp, vườn treo Babylon hay Vạn Lý Trường Thành. 


 Petra được xây dựng bởi một dân tộc Ảrập có tên là Nabatean tại một vị trí chiến lược, nằm ngay tại ngã tư thương mại nối Trung Quốc, Ấn Độ (Châu Á) với Ai Cập (Châu Phi) và Rome (Châu Âu). Những mặt hàng xa xỉ nhất thời bấy giờ đều phải qua tay Petra trước khi được vận chuyển đi tiếp : tơ lụa Trung Quốc, gia vị Ấn Độ, nước hoa vịnh Ảrập, kim cương Ai Cập, lạc đà Syria, dầu ôliu và rượu vang La Mã….Petra đánh thuế rất cao vào các mặt hàng đó và nhờ vậy nền kinh tế phát triển rất mạnh, cho phép đầu tư xây dựng những công trình kiến trúc đồ sộ và nguy nga ngay tại thành phố Petra. 


 Nhưng có một điều khó hiểu mà các chuyên gia đang tìm câu trả lời : tại sao các vị vua của Petra lại quyết định cho xây thành phố sâu hẳn vào thung lũng hiểm trở. Điều này đi ngược hẳn với nguyên tắc quy hoạch đô thị của các nền văn minh cùng thời, thường ở gần sông hoặc ở vị trí bằng phẳng thuận lợi cho giao thông vận chuyển hàng hóa thương mại. Tại Petra, nếu các thương gia muốn vận chuyến hàng hóa vào thành phố thì phải dùng lạc đà đi qua một hẻm núi hẹp, vách núi cao 80m và kéo dài đến hơn 1km. Và con đường đó vẫn được duy trì cho đến ngày nay. Du khách đến thăm vẫn phải qua hẻm núi này.


 Đang phải loay hoay xoay sở với các hẻm núi này thì bỗng nhiên hiện ra trước mắt tôi một ngôi đền khổng lồ, báo hiệu bạn đã chính thức đặt chân đến xứ sở huyền thoại Petra. Đứng trước công trình đồ sộ cao 43m và rộng 30m này, tôi cảm thấy thật nhỏ bé. 


 Đền này có tên là El Khazneh, vốn dĩ là lăng mộ của một vị vua. Điểm đặc biệt của ngôi đền này và cũng như nét kiến trúc độc nhất vô nhị của Petra, đó là việc tất cả đều được tạo ra từ việc trạm khắc trực tiếp từ bề mặt vách núi. Đây cũng là một điều khiến tất cả sửng sốt ngạc nhiên bới các dân tộc Ảrập thời cổ đại đều là dân du mục và chưa bao giờ để lại bất cứ dấu vết nào cho thấy trình độ kiến trúc xây dựng siêu việt. Petra và dân tộc Nabatean là một ngoại lệ duy nhất.  


 Khác hoàn toàn với tất cả các đô thị cùng thời, người Nabatean không phải vận chuyển bất cứ vật liệu xây dựng nào từ bên ngoài, họ chỉ sử dụng kỹ năng trạm khắc, khoét sâu vào bề mặt các tảng đá khổng lồ để tạo ra các cột nhà, hang động và mái nhà khổng lồ. Ngay trước cổng đền, tôi đã thấy một loạt dân địa phương áp sát khách du lịch để chào mời dịch vụ cưỡi lạc đà của họ. Nhân dịp này, tôi cũng phải nói luôn là Petra còn được mệnh danh là « thành phố lạc đà » thời cổ đại. Lý do cũng đơn giản thôi. Thời ấy, lạc đà là phương tiện vận chuyển duy nhất ở các quốc gia Trung Đông vốn dĩ chỉ có sa mạc và các vùng đất cằn cỗi thiếu nước. Nhưng Petra có lẽ là kinh đô của lạc nhà nhờ sự hưng thịnh của giao lưu thương mại. Các đoàn caravan lạc đà cứ nối đuôi nhau đến như những đàn cá chép. Cũng như tất cả các công trình kiến trúc khác, nét đặc trưng của El Khazneh không phải là ở nội thất bên trong (chẳng có gì và rất ngèo nàn) mà là ở các nét điêu khắc bên ngoài. Truyền thuyết nói rằng bên trong hàm chứa kho báu bí mật, cũng có thể là nguyên nhân tạo nguồn cảm hứng cho phim Indiana Jones ? Ngay cái tên El Khazneh dịch từ tiếng ả rập cũng có nghĩa là « kho báu » 

  Tôi theo thông tin từ cẩm nang du lịch, chọn thời điểm chụp ảnh tuyệt nhất đối với El Khazneh là vào lúc 10h sáng và có 2 điểm chụp ảnh tốt nhất, một là chụp đối diện và 2 là lần theo một con đường mòn trèo lên đỉnh đồi cao hơn 100m và chụp từ trên xuống. 


 El Khazneh chỉ là một trong số rất nhiều công trình kiến trúc của Petra. Muốn thăm kỹ càng tất cả thì phải mất khoảng 4-5 ngày. Thông thường, các tour du lịch dành cho các nhóm du lịch chỉ dành có 1 ngày và tôi cảm thấy đó là một bất công đối với Petra. Bản thân tôi phải dành 3 ngày trọn vẹn, để có thể khám phá một cách thoải mái, hòa mình vào những bí ẩn đằng sau tác phẩm nghệ thuật Petra và chụp những bức ảnh đáng đồng tiền bát gạo. 


Petra trước kia bao gồm cả đền thờ, nơi ở của vua chúa và nhà dân. Tuy nhiên, vì nguồn gốc du mục của dân tộc Nabatean, chỉ có các công trình kiến trúc dành cho thờ cúng là được xây dựng kiên cố còn nhà dân thì tạm bợ hơn. Chính vì thế, sau hơn 1400 năm, những gì còn sót lại nguyên vẹn chỉ có các ngôi đền. 


Nét kiến trúc của Petra cho phép các nhà khảo cổ học suy đoán được mối quan hệ văn hóa và thương mại khá mật thiết giữa Petra với các nền văn minh lân cận. Thật vậy, kiểu cách xây dựng nhà cửa nửa chòi ra ngoài nửa dính liền vào bề mặt vách núi cho thấy rõ tầm ảnh hưởng của nền văn minh có ngồn gốc Ba Tư (bản thân tôi cũng được biết các công trình theo kiểu này ở Iran, Syria và miền nam Thổ Nhĩ Kỳ). Tiếp đến, kiểu xây bề mặt đền mang đậm phong cách Hy Lạp và La Mã với các cột cao khổng lồ và mái hiên hình tam giác. Có thể nói Petra là dẫn chứng tiên phong trong lịch sử giao lưu văn hóa giữa Đông và Tây.


Ngoài trình độ trạm khắc trên đá tuyệt đỉnh, người Nabatean còn khiến cả thế giới thán phục nhờ khả năng xây dựng hệ thống dự trữ và phân phối nước của họ. Như các bạn đã biết, trở ngại lớn nhất của tất cả các quốc gia Trung Đông và Châu Phi là dự trữ nước. Tại một vùng đất cằn cỗi như Petra, bao bọc xung quanh chỉ là núi đá và cát bụi thì việc giữ lại nước mưa yếu tố quyết định đến sự sống còn của vương quốc. Chính vì thế, họ xây dựng một loạt các hũ đá chứa nước và tạo các ống dẫn nước nhờ việc khoét sâu vào vách đá. 


 Điểm cuối cùng trong hành trình khám phá Petra của tôi là đền Deir, trong tiếng ả rập có nghĩa là « đền thờ ». Muốn lên được đó thì phải leo 800 bậc thang dưới cái nóng hơn 40°C. Nhưng một khi đã leo lên được đỉnh thì cái nhìn toàn cảnh thực sự khiến tôi ngất ngây. 








Sunday, 1 July 2012

Nếu Hà Nội nổi tiếng về những con phố và ngõ nhỏ thì khi nói đến Sài Gòn “con hẻm” lại mang một ý nghĩa rất riêng, rất Sài Gòn với những con hẻm dài, ngoằn nghòe nhiều ngã rẽ giống như một mê cung giữa Sài Thành.

Hẻm là cấp đường nhỏ nhất trong hệ thống đường đô thị, nhưng trên hết, hẻm là nơi giao lưu, trao đổi, nơi cuộc sống diễn ra và mỗi khu vực có nét đặc trưng riêng.

"Hẻm" cũng trở thành câu cửa miệng của nhiều người dân khi hỏi đường hay muốn mua một thứ gì đó. Đặc trưng của những con hẻm ở Sài Gòn là những quán cóc nhỏ ngự trị trên những lối đi vốn đã không thể hẹp hơn ấy. Nhưng chẳng thấy ai cảm thấy phiền mà thích thú với những quán ăn này.

Sáng sớm, ở những con hẻm lại vang lên tiếng í ới gọi nhau “Ra đầu hẻm mua giùm mẹ tô bún”, “Cafe hẻm đi tụi bay ơi” “Tao đang ở hẻm A, B, C... ra đây đi”... Có lẽ chính vì vậy, các  quán cóc ở những con hẻm Sài Gòn cũng đã tạo nên một nét vẻ riêng cho Sài Gòn giữa một thành phố lúc nào cũng xô bồ, tấp nập với nhiều nhà hàng cao tầng, sang trọng phía mặt tiền ngoài những con đường lớn. Khi nhắc đến Sài Gòn người ta khó mà quên được cái “Văn hóa con hẻm” rất riêng ấy.

Khi lạc vào một con hẻm ở Sài Gòn, nếu bạn không rành đường thì nên hỏi người dân để biết đường ra nơi bạn muốn đến. Bởi những con hẻm ở đây có thể thông từ quận này đến quận khác. Từ một con hẻm có thể dẫn bạn đến vô số những con hẻm khác, ngoằn ngoèo và khó phân định.

Mỗi lần đi dạo trong hẻm, có khi khách lạ thấy nhiều điều ngạc nhiên: khi thì một ngôi chùa cổ (rất nhiều ở Chợ Lớn), khi thì nhận ra cuộc sống cộng đồng của những người làm cùng nghề. Ở quận 3, khách chợt gặp con hẻm của những người chuyên làm bánh, mứt phục vụ tết; ở quận 6 và phát hiện hẻm nghề in và ở quận Tân Bình có hẻm thợ may.

Vậy nhưng đôi khi nếu bạn đi theo những con đường lớn có tên đường hẳn hoi thì đoạn đường từ quận 1 đến quận 10 rất xa. Nhưng luồn lách qua những con hẻm thì chỉ mất chừng 15 phút. Bạn còn có thể khám phá những không gian mới mẻ, những khu chung cư vui nhộn khi đi qua con hẻm ở Sài Gòn.

Hẻm ở Sài Gòn cũng có nhiều loại hẻm. Có nơi gọi là hẻm nhưng là một con đường rộng, có cả tên đường. Nhưng có hẻm lại rất nhỏ chỉ đủ một chiếc xe máy đi vào. Lại nhớ nhà văn Sơn Nam đã từng nói “Nhà thằng này hẻm nhỏ xíu! Tới lúc nó chết khiêng quan tài ra cũng không được!” khi ông đến thăm ông Nát ở Cầu Bông.

Nhà cửa trong những con hẻm ở Sài Gòn cũng san sát nhau, hai nhà chung một vách, sáng mở cửa là đụng mặt nhau, trưa thì vắng tanh vắng ngắt. Chỉ cần nghe tiếng rao của người bán háng rong đầu hẻm là những người cuối hẻm cũng có thể nghe thấy vì con hẻm như những đường ống truyền cực chuẩn đưa âm thanh đi mãi vào trong ngõ.

Theo lẽ thường, người thành phố không biết nhiều về hàng xóm của mình. Thế nhưng, trong hẻm, tình làng nghĩa xóm, tinh thần tương thân tương ái gắn kết mọi người với nhau. Một người dân trong hẻm nói với tôi: “Khi có người hỏi, tôi ở đâu, tôi luôn trả lời bằng tên hẻm của mình trước. Con hẻm đối với tôi như một đại gia đình”.

Mỗi con hẻm đều có lịch sử, kiến trúc và đặc trưng riêng. Giữa hẻm chính và hẻm nhánh có sự khác biệt khá rõ nét. Chợ và hàng quán thường gắn với hẻm chính. Hẻm nhánh như những cánh tay vươn ra từ hẻm chính, thường rất yên tĩnh và được tô điểm bằng các chậu hoa do người dân đặt ở hai bên. Hẻm nhánh thường hẹp hơn và có khi là hẻm cụt.

Vào Sài Gòn, đi dạo trên đường phố nếu thấy xa xa có xe bánh mì hoặc nước mía, hay một quán có nhỏ bán hủ tiếu, bún riêu... là nơi đó có những con hẻm. Những hàng quán này cũng như là một dấu hiệu nhận biết của con hẻm vậy, với sự hiện diện gần như là nơi nào cũng có của nó nơi mỗi đầu hẻm trên đường phố Sài Gòn. Những hàng quán nho nhỏ đó chẳng bao giờ nằm chỏng chơ giữa đoạn đường mà phải nằm đúng vị trí của nó là ngay trước đầu mỗi con hẻm, hay cuối con hẻm này và đầu con hẻm khác.

Nhiều khi thấy tôi đi vào một con hẻm, mọi người cứ nhìn tôi rồi cười. Vài phút sau, tôi hiểu được ý nghĩa của những nụ cười đó: hết đường rồi, tôi đang ở trong hẻm cụt. Chẳng sao cả, tôi quay trở ra và tiếp tục đi, sẵn sàng bị lạc trong mê cung đô thị đầy sức sống và cũng lắm bất ngờ.

Đi vào hẻm là đắm mình vào gia đình Việt. Tôi không nhớ hết số lần mình được mọi người niềm nở mời vào tham quan nhà, uống trà và vui cười cùng các em nhỏ. Các bác lớn tuổi rất thích kể về lịch sử và những thay đổi trong con hẻm của mình. Một số bác sống ở đó từ hơn 50 năm nay.

Theo năm tháng, ngôi nhà được nâng cấp, xây thêm tầng lầu, nâng nền để chống ngập vào mùa mưa. Tuy môi trường sống có được cải thiện, nhưng nhiều người vẫn luyến tiếc thời con hẻm còn có những bụi tre hai bên, mỗi nhà đều có góc vườn nhỏ và mỗi người đều quen biết với nhau.

Con hẻm ở Sài Gòn, chỉ có ở Sài Gòn mới có mà thôi. Nó không giốngng những con phố với nhưng tên riêng như Hà Nội. Nó cũng không phải là những “ngõ” ở Hội An, Huế.

Những con hẻm ở Sài Gòn có lẽ rồi sẽ dần dà mất đi vì mật độ đô thi hóa. Nhưng, hình ảnh những con hẻm nhỏ vẫn còn mãi trong lòng người Sài Gòn. Những con hẻm quanh co, chằng chịt như mạch máu, như cái chân chất thật thà của chính con người Sài Gòn. Ở đó có cái tình cảm xóm giềng chảy trôi trong máu thịt. của mỗi con người Việt Nam, thứ tình cảm xóm giềng mà dù đi bất kỳ nơi đâu trên thế giới này cũng không tìm thấy được. Ở đó là những sự nương tựa chung đụng sống cùng nhau, sống cùng cái tốt lẫn cái xấu của nhau một cách chân thật trọn vẹn…

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ MonngonSaigon, Nguoiduatin, ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống