Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Tuesday, 25 September 2012

“Đến Lao Bảo phải thưởng thức ngay món trâu nướng, lá trơơng!” - anh bạn thổ địa người Quảng Trị quả quyết với tôi về món đặc sản không thể bỏ qua ở vùng biên giới Việt - Lào. Thịt trâu không lạ nhưng được thưởng thức bữa thịt trâu nướng với lá trơơng thì thật hiếm.

Ở nông thôn, con trâu vốn là đầu cơ nghiệp. Tôi nhớ ngày xưa chỉ có những sự kiện tổ chức quy mô lớn như hội làng, sĩ tử vinh quy bái tổ… dân làng hay những gia đình giàu có mới mổ trâu, heo để đãi khách. Vậy mà nay thịt trâu nướng đã trở thành thứ đặc sản, thành món ăn thưởng thức hằng ngày ở vùng biên giới Lao Bảo - thật là một sự ngạc nhiên thú vị với những lãng khách dừng chân nơi biên giới, nhất là những người mê ẩm thực.

Cũng không ngoại lệ, tôi bị cuốn hút từ cái nhìn đầu tiên về đĩa trâu nướng lá trơơng với màu cánh gián, tỏa hương thơm phức.

Thịt trâu nướng ở đây là thịt trâu non được nhập từ xứ Nam Lào, miếng thịt thường mềm, ngọt và đầy đặn, không dai. Miếng thịt trâu sau khi sơ chế, tẩm ướp gia vị sẽ được kẹp vào vỉ sắt và nướng trên bếp than hồng cho tới khi chuyển màu nâu cánh gián, phát tiếng xèo xèo, tanh tách của mỡ.
Khi miếng thịt vừa săn lại sẽ được người bán nhanh chóng thái thành lát mỏng, bài trí trên đĩa sao cho vuông vức và bắt mắt. Thực khách tinh ý sẽ thấy tài nghệ của người nướng thịt trâu: những thớ thịt chín mềm, ửng hồng bên trong và một màu nâu vàng bao phủ bề mặt.

Sẽ thật lạc lõng và thiếu vị nếu thưởng thức trâu nướng mà không kèm theo lá lốt, lá trơơng và nước tương pha ớt. Lá trơơng là một loại cây lá gai hoang dã mọc ở vùng rừng núi Quảng Trị. Lá này có mùi thơm và cay rất đặc trưng. Ở vùng biên giới Lao Bảo, không ai biết vì sao và từ bao giờ thịt trâu lại ăn kèm với lá trơơng, lá lốt…

Cũng có ý kiến: hay chăng triết lý âm - dương ngũ hành đã quy tụ trong món ăn này bởi thịt trâu có tính hơi hàn (lạnh) nên khi kết hợp với lá lốt thơm, cay, nước tương ngọt sẽ tạo ra một hương vị bùi bùi đến khó quên?

Cần nói thêm, ở thị trấn Lao Bảo ngoài món thịt trâu nướng lá trơơng, lá lốt thực khách còn thỏa sức chọn lựa nhiều món khác mang đậm hương vị ẩm thực Việt - Lào, nào là món trâu xào, xáo, hấp, luộc… Còn gì thú vị hơn trong chiều mưa biên giới, ngồi trong quán thưởng thức một bữa thịt trâu nướng, trâu xáo lá lốt. Những cô đơn và mệt mỏi của một ngày sẽ dần tan biến…

Khúc biến tấu của đặc sản thịt trâu ba miền

Ở vùng Tây Bắc, thịt trâu được chế biến thành nhiều món độc đáo như thắng cố (Lào Cai), nậm pịa, thịt trâu khô (Sơn La), canh da trâu… Đến các tỉnh miền Trung nổi tiếng với món thịt trâu nướng sả (ăn với bánh phồng tôm), thịt trâu cuốn lá lốt nướng của người H’Rê (Quảng Ngãi)… Ở Nam bộ, thịt trâu luộc cơm mẻ (Cần Thơ, Trà Vinh), lẩu trâu…

Du lịch, GO! - Theo Tiến Thành, Quốc Nam (TTO)
Dân tộc Lô Lô gồm hai dòng Lô Lô đen và Lô Lô hoa, là một trong những dân tộc thiểu số lâu đời của các dân tộc Việt Nam. Dân tộc Lô Lô hoa có khoảng trên 2 nghìn người chủ yếu sống tỉnh Hà Giang. Người Lô Lô đen có khoảng gần 4 nghìn người chủ yếu sống ở 2 huyện: Bảo Lạc, Bảo Lâm (Cao Bằng).

Phân biệt người Lô Lô đen và người Lô Lô hoa qua trang phục quần áo. Thiếu nữ Lô Lô đen mặc quần áo hai ống rộng dưới bó, trên vùng eo lưng thắt lại bằng chất liệu vải thô tự dệt nhuộm chàm pha củ nâu để giữ màu đen tím lâu phai.

Áo cũng bằng vải chàm mang một sắc thái riêng, áo ngắn bó sát thân được thêu bằng chỉ màu đỏ viền vải xanh lá mạ cuốn quanh thân chín vòng, cánh tay áo dài hơn thân áo được thêu bảy vòng vàng, xanh và đỏ, cúc áo bằng đồng nhỏ như hạt ngô có 5 cúc, lỗ khuy bằng vải khâu nối.

< Thiếu nữ Lô Lô hoa và trang phục truyền thống.

Dọc đường khuy áo là 2 viền sọc đỏ xanh. Lưng áo dệt một miếng thổ cẩm hoa văn vuông màu đen trắng rộng chừng một bàn tay dài từ cổ áo đến hết gấu áo, mép viền gấu áo là một sợi vải rộng khoảng 1cm, 2 màu đỏ và xanh thít chặt vùng bụng trên. Quấn quanh vùng eo là một miếng vải chàm nhuộm đen rộng khoảng 60 cm gấp đôi lại. Khăn đội đầu gọi là mũ có ba lớp vải chàm trắng bên trong - hai khăn màu chàm xếp quấn hai vòng bên ngoài. Tất cả là do bàn tay khéo léo của người phụ nữ cắt, khâu.

Riêng chiếc áo, đó là một nghệ thuật tạo hình. Áo ngắn hở bụng nhưng lại bó gọn đôi “bồng đào”, dù có lao động nặng hay nhẹ áo vẫn bó gọn thân hình thon thả đẹp như thân lưng những con ong rừng vậy. Ngày nay phần bụng hở được mặc thêm một áo lót mỏng màu trắng hồng hoặc xanh da trời bằng vải phin.

< Thiếu nữ Lô Lô đen và trang phục truyền thống.

Còn phụ nữ Lô Lô hoa trang phục nhiều màu đỏ sặc sỡ hơn, áo dài quá thân, khăn đội xếp nhiều lớp hình vuông được trang trí hoa văn sặc sỡ. Đàn ông Lô Lô hoa cũng giống đàn ông Lô Lô đen mặc quần 2 ống rộng bằng vải chàm đen, phần trên quấn quanh bụng là phần nối khoảng 20 cm bằng vải chàm không nhuộm, nhưng áo khác nhau. Đàn ông Lô Lô hoa trong quá trình sống giao thoa với cộng đồng nên bây giờ có nét tương đồng với đàn ông dõn tộc Mông, ngôn ngữ dân tộc Lô Lô đen và Lô Lô hoa cũng khác nhau đôi chút.

Người Lô Lô đen ở Bảo Lạc và Bảo Lâm sống định cư lâu đời thành từng làng. Làng người Lô Lô thường ở ven sườn núi, họ canh tác chủ yếu là nương rẫy và lúa nước. Tương truyền người Lô Lô đen kể rằng, tổ tiên của họ là anh em cùng cha cùng mẹ với dân tộc Tày, nên hiện nay ngoài ngôn ngữ riêng, từ già tới trẻ, người Lô Lô đều sử dụng và giao tiếp rất thành thạo ngôn ngữ Tày.

Cuộc sống người Lô Lô bình đẳng giữa đàn ông với phụ nữ. Trai gái yêu nhau, tự tìm đến với nhau, tìm hiểu nhau qua lao động, qua các phiên chợ, nhất là chợ tình vào ngày 30 tháng 3 và ngày 15 tháng 8 âm lịch, từng tốp nam nữ người Lô Lô mang cơm nắm đến chợ từ chiều hôm trước chợ phiên.

Đám con trai mời con gái ăn bánh dày nhân vừng đen và uống rượu hát giao duyên gọi là hát "lả chế" đến sáng không ngủ. Đôi nào ưng ý, họ tách riêng ra, người con trai cầm túi của người con gái vừa hát vừa kéo, người con gái quấn 2 vòng quai túi quanh cổ tay giữ cho chắc chắn không để túi lọt vào tay người con trai. Giằng co nhau đi từ đầu chợ đến cuối chợ. Đói thì ăn bánh ăn phở và uống rượu. Đến chiều, chợ tan nếu người con gái yêu chàng trai thì chịu để cho chàng trai cầm túi kéo đi. Dưới ánh hoàng hôn, bóng các chàng trai, cô gái nghiêng ngả hơi men đi trên những nẻo đường ngoằn nghoèo trên núi thấp thoáng trông như những con "nộc Sloa" đang múa. Sau đó là các thủ ăn hỏi, cưới xin được diễn ra trong cuộc sống cộng đồng.

Người Lô Lô không có lễ Thanh Minh tảo mộ. Phần mộ gia đình theo dòng họ được chôn cất tại một cánh rừng riêng của dòng họ. Quan niệm của người Lô Lô là không được động chạm đến mồ mả tổ tiên. Chỉ có lễ thờ thần đá vào đầu tháng 3 âm lịch gọi là: "Mể lồ pỉ". Xong rồi mới gieo trồng vụ mới.

Theo quan niệm người đẻ nhưng đất không đẻ nên mỗi gia đình người Lô Lô thường chỉ sinh hai con. Với họ, trai hoặc gái đều quý như nhau. Khi người con trai cả lấy vợ, sinh con được 5 - 6 tuổi thì bố mẹ ra ở riêng. Nhà riêng là cái lán dựng ngoài nương rẫy gần khe suối có đủ vật dụng gia đình để chăn nuôi gà, vịt và chăn bò, tiện việc trông coi nương rẫy. Việc nuôi lợn là phần của người con dâu, đám ruộng quanh nhà do người con trai trồng cấy. Nếu gia đình có hai con trai thì khi lấy vợ phải tách ra ở riêng.

Khi gia đình có người chết trong vòng 24 tiếng phải đưa đi chôn ngay tại cánh rừng riêng của dòng họ. Lễ đưa người chết đi chôn gọi là lễ "ma sống". Sau 1 - 3 năm người Lô Lô mới tổ chức tang lễ gọi là lễ "ma khô". Lễ "ma khô" được tổ chức linh đình, kéo dài từ 2 đến 3 ngày. Họ sử dụng tiếng trống đồng để tiễn đưa người chết về với tổ tiên. Trống đồng Lô Lô là dụng cụ chỉ để dùng trong lễ tang và là tài sản quý nhất của mỗi dòng họ. Mỗi dòng họ có từ 1 đến 3 đôi trống đồng, ước tính người Lô Lô chỉ còn khoảng 48 - 50 đôi. Mỗi đôi gồm trống đực và trống cái. Trống cái to gấp 3 lần trống đực. Ngày xưa trống đồng được cất giữ ngoài nương rẫy. Hiện nay, trống được giao cho người trưởng họ của dòng họ có trách nhiệm giữ gìn và bảo quản trong nhà.

Khi tổ chức lễ "ma khô" thường sử dụng từ 5 đến 6 đôi trống. Tất cả trống đồng của dòng họ được tập trung lại, nếu ít thì phải mượn trống của dòng họ khác. Trống được treo lên từng đôi,  mặt trống cái và mặt trống đực úp vào nhau cách nhau khoảng 20 - 30 cm. Người ta sử dụng 2 thanh tre để gõ trống. Thanh to xiên qua một củ ráy cắt đôi bọc vải chàm để gõ hai mặt trống, thanh tre nhỏ đánh phách nhịp trên tai trống tạo thành âm thanh trầm, âm vang huyền bí. Đánh trống có 5 đến 6 bài đánh để tạo nhịp cho 12 điệu múa.

Mỗi một gia đình anh em họ hàng với người chết mang đến một cây nêu bằng tre hoặc trúc dài treo một miếng vải hoa đỏ hoặc xanh, kèm theo rượu, gạo và 1 con lợn nhỏ hoặc con gà. Con gái, con rể, cậu lớn, cậu bé thì mang con bê hoặc con nghé. Tất cả đàn ông đều mặc áo tang bằng vải màu đỏ hoặc xanh tự khâu dài quá đầu gối. Phụ nữ mặc quần áo mới truyền thống, trên đầu đội thêm từ 3 - 5 cái áo mới để cúng cho người chết.

Khi thầy cúng làm lễ chính, tiếng trống đồng được đánh lên, con cháu bắt đầu hát gọi là "chỏ chế". Thường đàn ông mới hát "chỏ chế” và hát liên tục cho hết buổi lễ. Nội dung tiếng hát nói lên nỗi thương tiếc người đã khuất, cầu mong cho người chết được về đoàn tụ với tổ tiên và phù hộ cho con cháu có cuộc sống bình yên.

Tất cả các cây nêu được tập trung lại trong một cây to dưới nhà. Con cháu bắt đầu múa vòng quanh theo nhịp trống đồng. Có 2 phụ nữ cầm chai rượu và khay chén đứng ngoài vòng lần lượt đưa chén rượu mời mọi người uống.

Hết điệu múa thứ hai thì nghỉ, bắt đầu lễ chính. Tất cả gà, lợn, bê nghé được giết mổ ngay tại dưới dàn trống đồng. Sau khi chọc tiết xong, mỗi con vật được đặt trên một tấm liếp đan hình vuông có buộc một miếng vải đỏ đặt một bát gạo, một chén rượu, thầy cúng cầm một cành lá bưởi  bắt đầu khấn.

Thầy cúng là con cháu, anh em mang vật tế đến phải khác tự giết mổ và khác cúng khấn cho con vật tế của mình. Nếu ai không biết khấn thì thuê người khác cúng khấn cho khi xong việc phải chia cho thầy một cái đầu lợn hoặc một cái đầu con gà. Có bao nhiêu con vật tế thì có bấy nhiêu thầy cúng. Tiếng cúng khấn như tiếng hát một nhịp đều đều lẫn vào tiếng ồn ào của đám lễ.

Sau đó mỗi một con vật được thui trên một đống lửa riêng. 29 con vật là 29 đống lửa nghi ngút. Trong lễ “ma khô” của người Lô Lô, phảng phất âm vang của tiếng trống đồng cùng tiếng hát "chỏ chế".

Du lịch, GO! - Theo DulichVN, ảnh internet

Độc đáo Tết của người Lô Lô ở Cao Bằng
Đi lấy may đêm giao thừa với người Lô Lô.
Dân tôc Lô Lô - Hà giang

“Khăn che đầu đẹp như tình em đấy. Khăn thương ai bền mãi không rời...” - lời hát giao duyên réo rắt của cô thiếu nữ Lô Lô Hoa hòa cùng tiếng trống đồng, tiếng gõ nhịp tay như làm rạo rực thêm không khí đêm hội.

Khăn duyên của phụ nữ Lô Lô Hoa là sự phối hợp tinh tế giữa vải bông trắng, chỉ muôn màu với hạt cườm, khuy bạc. Hoa văn của khăn duyên tập trung chủ yếu ở hai đầu khăn theo mô típ hình núi bằng vải đỏ, điểm xuyết vào đó là chỉ trắng, chỉ xanh làm viền. Kết hợp cùng các mảng hoa văn, ở hai đầu khăn còn được đan thêm nhiều tua len tết tròn như những chùm quả nhỏ đủ màu vừa với mục đích trang trí, vừa để dễ tạo ra độ bám chắc khi buộc khăn quanh đầu.

Người phụ nữ Lô Lô Hoa bao giờ cũng tự dệt khăn duyên bằng vải bông. Màu chủ đạo ở thân giữa khăn là đen hoặc xanh chàm, hai đầu khăn mới trang trí thêm tua (tua len hoặc tua chỉ màu xe thành sợi). Vải làm tua không cùng màu với thân khăn mà là những dải vải khác màu riêng biệt được đính vào khăn cùng với các hạt cườm và một số khuy bạc nhỏ tạo nên sự tương phản về sắc. Cách thức trang trí hoa văn trên khăn duyên rất đa dạng, tự do tùy theo gu thẩm mỹ, sở thích của từng người phụ nữ.

Mỗi chiếc khăn duyên được hoàn thành xem như một sáng tạo nghệ thuật, đòi hỏi người phụ nữ không chỉ có lòng kiên trì mà còn phải khéo léo, có độ nhạy thẩm mỹ cao. Đó cũng là một tiêu chuẩn quan trọng để các chàng trai Lô Lô Hoa nhìn vào mà kén vợ...

Monday, 24 September 2012

Ông Lâm nâng niu quả nấm như bảo vật bảo: “Có lẽ đây là củ nấm Phục linh thiên cuối cùng của đại ngàn Hoàng Liên Sơn và của đất nước Việt Nam”.
Có một điều lạ là ở cánh rừng này chỉ có những cây X. họ thông khổng lồ, không hề có cây nào nhỏ cỡ một người ôm. Điều đó có nghĩa cả trăm năm nay không có hiện tượng tái sinh của loài cây họ thông cực quý này nữa. Ông Lâm nghĩ rằng, do trúc mọc ken dày phía dưới, cây nhỏ không mọc lên được, nên ông đã từng bỏ nhiều năm phát trúc, xới đất, tạo ra những không gian thoáng mát.

< Ông Trần Ngọc Lâm dẫn đường cho PV vào khu rừng X.

Đến mùa cây X. rụng quả, ông Lâm đi nhặt quả X. gieo vào những khu đất trống, có ánh nắng và độ ẩm, song tuyệt nhiên không thấy quả X. nào nảy mầm. Như vậy, khi những thân X. khổng lồ này chết đi, loài X. có thể sẽ tuyệt chủng ở Việt Nam.

Tận mắt nhìn “cục vàng” mọc trên ngọn cây giữa đại ngàn

Một điều đáng báo động là cứ vào dịp cận Tết, đồng bào Mông lại kéo nhau vào khu rừng này chặt cành X. vác ra Sapa bán cho nhà giàu chơi Tết. Vì lá cây X. rất đẹp, tươi lâu, để 4-5 tháng lá không héo, nên người dân Lào Cai rất thích chơi trong dịp Tết. Mỗi cành X. bằng cổ tay có giá cả triệu bạc. Đồng bào Mông thường cưa một cành to, hoặc ngả đổ cả cây để tha hồ chặt cành vác ra.

Mấy năm trước, hiện tượng tàn phá cây X. để chơi Tết diễn ra rất nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây, lực lượng kiểm lâm quản lý nghiêm ngặt, công an bắt giữ những người buôn bán, nên hiện tượng đốn hạ cây X. giảm hẳn.

Hiện tượng chặt cành chơi Tết dừng lại, thì lại xuất hiện hiện tượng lấy gỗ cây X. Gỗ X. có vân đẹp chẳng kém gì thủy tùng, chất gỗ lại cực tốt, càng để lâu càng đỏ lịm, nên được giới nhà giàu ưa chuộng. Mỗi khúc gỗ nặng vài chục kg được giới săn gỗ mua với giá vài triệu, nên một số kẻ hám lợi đã vào khu rừng này cưa đổ cây X. Tuy nhiên, vì rừng quá rậm, núi cao, hiểm trở, để vác được một khúc X. nặng 30kg, phải mất 3 ngày cuốc bộ, nên rừng X. chưa bị tàn phá nặng. Vả lại, do kiểm lâm quản lý cực kỳ nghiêm ngặt, kiểm đếm từng cây, nên lâm tặc không dễ gì xà xẻo.

Thường xuyên sống cả tháng ở trong khu rừng X. này, nên “người rừng” Trần Ngọc Lâm nắm tường tận từng cây. Toàn bộ rừng Hoàng Liên Sơn chỉ có khoảng 500 cây. Những cây X. đều đã có tuổi cả ngàn năm. Ở độ cao 2.800, lạnh buốt quanh năm, những thân cây bám đá để lên, thì mỗi năm đường kính chỉ lớn không quá 1mm. Do đó, cây nào có đường kính 1m, nghĩa là chúng đã có tuổi ngàn năm.

Từ gốc những cây X. rêu mốc, xù xì, tôi thấy rất nhiều cây nấm có màu đỏ lịm, hình dáng như vỏ con trai. Ông Lâm bảo đó là nấm linh chi, chính là loài nấm gây cơn sốt săn tìm suốt mấy năm qua ở Quảng Nam. Người dân ở Quảng Nam đã ráo riết vào rừng săn tìm loài nấm này rồi sắc nước để uống, trị bệnh ung thư có hiệu quả. Theo lời ông Lâm, loài nấm linh chi mọc trên cây X. này tốt không kém gì linh chi mọc trên cây lim. Nó cũng có tác dụng ức chế khối u, song không mạnh, nên ông Lâm ít khi để ý đến.

Ông Lâm vắt sợi thừng vào thân cây, cứ thế trèo lên thoăn thoắt. Chỉ một lát, ông đã mất hút trong tán cây rậm rì, xanh thẫm. Ông tụt xuống với một củ nấm Phục linh thiên trên tay vẫn còn bám tuyết. Ông nâng niu quả nấm như bảo vật bảo: “Có lẽ đây là củ nấm Phục linh thiên cuối cùng của đại ngàn Hoàng Liên Sơn và của đất nước Việt Nam”. Ông Lâm đã phát hiện ra củ nấm này từ hơn năm trước, nhưng ông để giành đến bây giờ mới thu hái.

Theo lời ông Lâm, loài Phục linh thiên này chỉ xuất hiện ở những cây X. có tuổi trên dưới 1.000 năm. Khi côn trùng, sâu bọ đục khoét thân cây X. ngàn năm tuổi này, thân cây sẽ sinh ra chất nhựa để bảo vệ vết thương (cơ chế giống như cây dó bầu tạo trầm hương, kỳ nam). Từ cục nhựa này, có thể mọc ra củ nấm Phục linh thiên. Tuy nhiên, có thể cả ngàn vết thương trên cả trăm cây X. mới sinh ra được một quả Phục linh thiên. Do đó, mỗi năm, từ hàng trăm cây X. ngàn tuổi, may ra cho được một vài quả nấm.

Vào mùa xuân, khi cái nắng bắt đầu ấm áp, những cơn mưa xuân gây ẩm ướt nhiều ngày, ông Lâm lại bỏ cả tháng trời đi kiếm Phục linh thiên. Mỗi lần đi kiếm Phục linh thiên, ông Lâm lại phải trèo từng cây X., quan sát từng vết thương, từng cục nhựa đen xì, xem có nhú lên củ nấm bé xíu bằng hạt gạo nào không. Nếu phát hiện, ông Lâm đánh dấu địa điểm tìm thấy rồi đợi đến mùa thu mới khai thác. Mùa thu là mùa quả nấm có tác dụng tốt nhất. Tuy nhiên, mấy năm nay, có khi leo trèo cả tháng, lên hết 500 cây X. của đại ngàn Hoàng Liên mà cũng chẳng thấy dấu vết gì của Phục linh thiên. Vì hiếm như thế, Phục linh thiên được sánh ngang với vàng cũng là điều dễ hiểu.

Có một điều rất lạ, ông Lâm đã dùng dao đục hàng ngàn lỗ trên ngọn những cây X. khổng lồ này, cây X. cũng sinh nhựa bảo vệ vết thương, nhưng tuyệt nhiên chưa từng cho một quả nấm nào mọc lên từ những vết thương nhân tạo ấy. Tất cả những củ nấm mà ông Lâm thu hái, đều xuất hiện ở những vết thương do một loại côn trùng nào đó tạo ra.

Ông Lâm đã có cả chục năm trời tìm kiếm loài nấm Phục linh thiên này. Ông đã thu hái được tổng cộng vài chục quả. Ông nghiên cứu từng vết thương của cây X. và theo dõi quả nấm lớn lên từ khi bé bằng hạt gạo, đến khi to bằng nắm tay, song ông Lâm vẫn không thể hiểu nổi vì sao quả nấm lại mọc lên từ vết thương trên ngọn cây X. trong hoàn cảnh băng tuyết gần như quanh năm. Ông cũng không thể lý giải được do côn trùng cấy giống vào vết thương của cây X. hay tự thân cây X. sinh ra. Những bí ẩn này là sự kỳ diệu của tạo hóa.

Gói ghém cẩn thận “cục vàng” cuối cùng của đại ngàn Hoàng Liên Sơn vào ba lô, tôi và “người rừng” Trần Ngọc Lâm rời sườn Fansipan trong nỗi buồn khó tả. Không biết đến bao giờ, đại ngàn Hoàng Liên mới lại sinh ra một quả Phục linh thiên để cứu ông và những bệnh nhân ung thư đang chờ chết? Bao nhiêu năm nghiên cứu, ông chưa tìm ra bất cứ cách gì để nhân giống thứ báu vật của trời đất này.

Cách đây 4 năm, ông Trần Ngọc Lâm sang Tây Tạng thăm các thiền sư đã từng cứu sống ông. Ông tặng các thiền sư ở đây mấy quả nấm Phục linh thiên của Hoàng Liên Sơn. Các vị thiền sư đã chết lặng khi nhận được món quà mà với họ là vô cùng quý hiếm. Một vị thiền sư từng chữa bệnh ung thư cho ông Lâm hỏi: “Con lấy thứ quý hiếm này ở đâu ra vậy?”. Ông Lâm trả lời: “Ở Việt Nam con nấu canh ăn hàng ngày”. Vị thiền sư đã tát ông Lâm một cái nổ đom đóm: “Anh có biết việc anh ăn vô tội vạ như thế đã cướp đi sinh mạng của bao nhiêu người không?”. Giờ đây, khi Phục linh thiên đã tuyệt chủng, ông Lâm mới nhận ra sự quý giá vô cùng của loại thần dược này.

Hết
Kỳ 1: Một lần làm… đế vương!
Kỳ 2: Chữa ung thư?
Kỳ 3: Tận mắt “cục vàng” mọc trên ngọn cây giữa đại ngàn.

Du lịch, GO! - Theo Phạm Ngọc Dương (VTC)

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống