Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Sunday, 30 September 2012

Đối với người từng một lần qua miền Tây Bắc thì những con đèo luôn để lại ấn tượng cực kỳ sâu đậm. Đơn giản vì chặng đường hàng nghìn cây số từ Hoà Bình vòng về Yên Bái đi đến đâu cũng chỉ thấy đèo và đèo. Trong số vài chục con đèo lớn bé, nổi lên có Pha Đin, Xá Tổng, Ô Quy Hồ là đáng kể hơn cả.
Pha Đin: Nơi tiếp giáp giữa đất và trời

Người Thái gọi Pha Đin là Phạ Đin. Phạ nghĩa là trời còn Đin là đất. Phạ Đin nguyên nghĩa là nơi tiếp giáp giữa trời đất. Chuyến Tây Bắc đầu tiên, khi đặt chân tới đây tôi đã mê mẩn trước cảnh sắc cực kỳ quyến rũ ở nơi có độ cao tới hơn 1.000m này (chỗ cao nhất là hơn 1.600m).

Pha Đin đẹp nhưng cực kỳ hiểm trở. Con đèo dài 32km khi lên dốc, lúc xuống dựng đứng, đường ngoằn ngoèo, chênh vênh, một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm, toàn cua tay áo. Đây là thử thách lớn nhất đối với cánh lái xe tải trong lộ trình Hà Nội - Điện Biên.

Lần trước qua đây, tôi đã thấy một chiếc xe tai nạn, bẹp dúm dó toàn bộ phần đầu xe. Thì y như rằng, lần này đi tới sườn Tuần Giáo, tôi lại thêm một lần nữa chứng kiến tới 2 tai nạn ôtô. Một chiếc xe du lịch 12 chỗ màu xanh lao xuống vực ở khu vực đỉnh đèo, chiếc còn lại là ô tô tải bị lật ngang. Lái xe tải tên Vịnh may mắn thoát hiểm chỉ bị xước xát nhẹ, mặt xanh như đít nhái. Vịnh nói, vẫn chưa hết run: “Những tay lái tài ba nhất khi qua đây cũng đều phải xốc lại tinh thần và cực kỳ thận trọng. Xe chỉ dám đi thật chậm. Bò lên đèo đã khổ, nhưng đến lúc đổ đèo (xuống) thì còn “nhục” hơn nhiều. Chỉ cần chút sơ sẩy là lật xe ngay”.

Lần này khi tôi đi qua Pha Đin, bên sườn Thuận Châu người ta đang mở đường rộng hơn. Mở xong bên này, sẽ làm nốt bên Tuần Giáo. Chỉ một thời gian ngắn nữa thì con đèo trứ danh - từng là nỗi khiếp sợ của không biết bao nhiêu lãng khách - sẽ bớt nguy hiểm đi rất nhiều. Đường được mở to hơn và những con dốc được đánh xuống thấp hơn, ăn cả vào lòng núi.

Đêm ngủ lại ở đỉnh đèo, một người bạn cũ - giờ là công an - sau khi say rượu bắt đầu ngồi khật khưỡng kể về truyền thuyết con đèo. Câu chuyện này tôi đã nghe anh kể không dưới 10 lần, toàn trong lúc say, nhưng lần nào cũng thấy có điều gì thật huyền bí. Rằng ngày xưa có một cuộc đua ngựa vô tiền khoáng hậu giữa hai tỉnh Sơn La và Lai Châu (cũ). Ngựa Lai Châu phi nhanh hơn, nên phần đèo thuộc về Lai Châu (nay thuộc đất Điện Biên) dài hơn phần đèo của Sơn La...

Đèo Xá Tổng: Điểm tận cùng của cung đường hoang

Đoạn đường từ Tuần Giáo lên Lai Châu phải đi qua con đèo hiểm trở nhất mà tôi từng biết, là đèo Xá Tổng. Con đèo dài 25km và mặt đường thì xấu tới mức không thể tưởng tượng. Nhiều đoạn không cọc tiêu, không gương cầu, nhìn xuống chân chỉ thấy những đoạn đường ngoằn ngoèo vòng vo như rắn lượn. Chỉ cần một chút lơ đễnh là lao xuống vực như chơi.

Chiếc xe Minks gầm lên từng hồi một cách mỏi mệt, đa phần chỉ có thể lết được bằng số 1. Người ta nói, đoạn đường này đã bị bỏ hoang từ lâu, hầu như không có ô tô đi qua đây vì đường quá nguy hiểm.

Càng đi, đường càng trở nên hoang vắng. Thảng hoặc ven đường mới có một bóng nhà nhỏ. Người bạn đồng hành ngồi sau liên tục xoay xở đủ tư thế ngồi. Chiếc xe chồm lên từng chặp, mệt bã người. Đi hết con đèo này sẽ tới thị trấn Mường Lay, nơi chẳng còn bao lâu nữa sẽ chìm trong bể nước.

Đỉnh đèo có vẻ là nơi sinh động nhất trong suốt quãng đường dài gần 30km. Có vài hàng quán lụp xụp tiêu điều. Những người đi xe máy khi tới đây thường dừng lại nghỉ, họ xem xét lại hệ thống phanh để xuống dốc.

Tôi mất gần 2 tiếng đồng hồ để có thể vượt qua đoạn đường dài chỉ 25km. Suốt đoạn đường, tôi nhìn dán mắt vào lòng đường mà chẳng dám ngó xuống dưới chân. Con đèo gần như hoang phế ấy chắc chắn sẽ còn là nỗi kinh hoàng cho nhiều người yếu bóng vía khi bất đắc dĩ phải đi qua.

Đèo Ô Quy Hồ: Kỷ lục về độ dài

Nhiều người vẫn quen gọi đây là đèo Hoàng Liên. Đỉnh đèo là nơi tiếp giáp giữa hai tỉnh Lai Châu và Lào Cai. Có lẽ đây là con đèo dài nhất dải Tây Bắc, tới hơn 40km. Đường sá khá tốt và núi non thật hùng vĩ. Những tấm biển “Chú ý tai nạn” được cắm dọc đường rất nhiều, luôn đập vào mắt người đi đường như những lời căn dặn.

Cung đường này ôtô qua lại nườm nượp, nhất là cánh xe khách. Để đi từ Hà Nội lên Lai Châu, nhiều người thường chọn cách đi tàu lên Lào Cai và tiếp tục cuộc hành trình Lào Cai - Lai Châu bằng đường này.

Tôi từng nghe những truyền thuyết ở đèo Ô Quy Hồ, thường là các câu chuyện truyền miệng nghe có phần hoang đường nhưng cũng đủ làm người yếu bóng vía rợn tóc gáy. Nhân vật đáng sợ luôn là các thần hổ - những con hổ già đời tinh quái, thường rình rập ở đâu đó trên đèo để bắt người. Nhắc tới Ô Quy Hồ, nhiều người không khỏi rờn rợn liên tưởng tới tập truyện “Ai hát giữa rừng khuya” của nhà văn tiền chiến TCHYA.

Con đèo chạy men sườn dãy Hoàng Liên, nơi được coi là mái nhà nước Việt. Đường dài hun hút, lẩn khuất trong những vách núi, thoắt ẩn thoắt hiện. Và điều làm tôi kinh ngạc hơn cả là sự khác biệt về thời tiết. Bên sườn Lai Châu, thời tiết không đến nỗi lạnh nhưng từ đỉnh đèo đổ dốc xuống sườn Lào Cai thì nhiệt độ hạ xuống ghê gớm, có lẽ chỉ vài độ. Từ đỉnh đèo chạy về Sa Pa (dài 12km), tôi đi trong cái rét tê tái, mặt gần như không còn cảm giác và tay chân buốt như có kim đâm.

Đèo Tây Bắc luôn là đề tài thú vị nhất trong những câu chuyện của những người từng qua mảnh đất này! Qua thời gian, những con đèo được mở rộng ra, bớt cao và bớt nguy hiểm, thì cái thú vị khi vượt đèo cũng nhạt dần. Lần sau nếu có dịp đi qua Pha Đin, tôi chắc chắn đó sẽ là con đường rất rộng. Chỉ mong sao sẽ không phải thấy hình ảnh những chiếc xe tải bị lật. Những hình ảnh ấy ám ảnh tôi tới tận bây giờ.

Hết
Tây Bắc mùa dã quỳ nở (Kỳ 1)
Sông Đà - người bạn tri âm (Kỳ 2)
Ấn tượng những con đèo (Kỳ 3)

Du lịch, GO! - Theo Dantri, internet
Sông Đà hùng vĩ là một phần tất yếu của cuộc sống Tây Bắc. Trong tiềm thức người dân, sông là người bạn thâm giao và đầy ân oán. Suốt lộ trình Tây Bắc chúng tôi đi qua, dòng sông luôn thoắt ẩn thoắt hiện, đẹp một cách đầy mê hoặc.

Cuộc sống ven sông

Dọc sông Đà, cuộc sống của người dân (phần lớn là người Thái) lúc nào cũng sống động và rộn rã. Từ ngàn đời nay, người Thái đã sống dựa vào con nước. Khi được hỏi, những người già luôn nói câu cửa miệng: “Thái ăn theo nước” (câu đầy đủ là: Xá ăn theo lửa/Thái ăn theo nước/ H'mông ăn theo sương mù - PV).

Chúng tôi vào Quỳnh Nhai - mảnh đất cuối cùng của Sơn La. Đường vào trung tâm huyện Quỳnh Nhai là đường cụt, chỉ có thể vào và trở ra theo đường cũ. Con đường ngoằn ngoèo, hết dốc này tới đèo khác. Một phần rộng lớn của huyện Quỳnh Nhai (9/13 xã) sẽ nằm sâu dưới con nước trong nay mai.

Quốc lộ 279 là đường duy nhất để có thể đi từ Quỳnh Nhai trở ra, và tới các vùng miền khác. Tuyến đường đi qua 4 xã của huyện Quỳnh Nhai là Mường Giôn, Pác Ma, Chiềng Ơn và Mường Giàng với tổng chiều dài 50 km, nối liền với Sa Pa (Lào Cai) và huyện Than Uyên, thị xã Tam Đường tỉnh Lai Châu. Con đường đã được nâng cấp, từ trung tâm huyện Quỳnh Nhai lên đến Than Uyên chỉ còn 57 km...

Cách bến phà Pá Uôn mấy trăm mét, những tiếng gào khóc mỗi lúc một gần khiến tôi thấy rờn rợn. Có người chết đuối, mới thấy xác. Những người chết như thế này thường không được đưa về bản. Họ hàng, người thân phải tìm ra hiện trường rồi đóng áo quan và mai táng người chết ở đâu đó gần đấy.

Những tiếng khóc hờ, vẻ mặt ngây dại của người goá phụ và đàn con, dắt tay nhau đi dàn hàng ra đường trong một buổi chiều u ám, đã ám ảnh tôi nhiều ngày sau đó. Đất có thổ công, sông có hà bá. Lần này thuỷ thần đã nổi giận, lật ụp chiếc thuyền đuôi én với bốn tay lực điền xấu số.

Bến phà Pá Uôn chiều cuối đông, những chuyến phà cuối cùng đang hối hả chở người, xe qua lòng sông - khúc này rất rộng và khoáng đạt. Từ nhiều năm nay, bến phà này là nơi dung chứa nhiều phận đời, nhất là những người chèo đò ngang và các cửu vạn khuân hàng từ sông lên bến. Tôi đếm được có đến mấy chục chiếc thuyền. Chiếc nào cũng rất bé. Mặc dù có phà nhưng những người vội vã thì vẫn luôn chọn giải pháp đi thuyền, nhanh hơn nhiều.

Còn cách bến phà tới cả trăm mét, những người lái đò đã chạy theo và khẩn nài mời chúng tôi quá giang bằng thuyền. Họ bảo: Đi thuyền nhanh, đỡ phải chờ phà lâu, mà lại an toàn (?)

Đi phà chỉ mất 1.000đ/người, nhưng đi thuyền thì các chú lái tha hồ chặt chém, có lúc là 5.000đ nhưng cũng có lúc là 10.000đ, thậm chí trong một số điều kiện đặc biệt thì phải mất trăm bạc. Chiếc thuyền chòng chành, phành phạch rời bến trong nỗi khiếp hãi của tôi. Nước sông chảy ri rỉ vào lòng thuyền, mỗi lúc một nhiều. Chú lái tên Lò Văn Thuận cười hềnh hệch: “Bác yên tâm không sao cả”.

Con đường vào tới huyện lỵ Quỳnh Nhai bị cắt xé bởi hàng chục khúc suối chảy ngang. Không một đoạn nào được làm ngầm, tất cả đều chỉ là đá hộc rải sơ sài qua suối. Tôi chưa thấy thị trấn nào kỳ lạ như thị trấn Quỳnh Nhai. Con đường qua thị trấn rất hẹp, hai bên là những ngôi nhà sàn nhỏ bé. Ở đây chẳng hề có một chút gì không khí phố thị, tất cả đều rất mộc mạc, và buồn.

< Cầu Pá Uôn lúc đó đang xây dựng.

Buổi tối, vài ba hàng cà phê vườn leo lét ánh đèn, và, những dãy bàn ghế thì được kê ra không khác nào các quán bia ở Hà Nội. Các chết vì lật thuyền của bốn người thái ở tận khu vực bến phà Pá Uôn mà tôi gặp lúc chiều muộn đã lan truyền đến đây. Người ta thi nhau bàn tán, rằng sông Đà năm nào cũng mang theo nó vài người ở khu vực này.

Ở nơi dòng nước sẽ ngự trị

Ngược dòng Đà giang đi về phía Lai Châu, đã hơn một lần tôi nhầm tưởng là sông Đà khi trông thấy dòng Nậm Na hoặc một dòng suối lớn tương tự. Con sông ẩn hiện tới ranh mãnh, khi thì thấp thoáng sau những ngọn núi xanh biếc, lúc lại bất chợt hiện ra mênh mông khoáng đạt.

Trong lòng sông, những chiếc tàu hút cát (có cả đãi vàng) xù xì, bẩn thỉu, rách rưới và gớm ghiếc y hệt những con tàu ma trong phim nhựa nước ngoài. Những chiếc tàu này cũng ẩn hiện với đầy vẻ bí hiểm. Người ta nói đó là tàu hút cát, rồi đãi cát đó tìm vàng. Những con tàu nhẫn nại bò qua từng khúc sông một cách tỉ mẩn. Đất đá cứ mặc sức hút, lòng sông bị cày xới nát be bét và những mỏm đá ngầm thì nhô lên chi chít. Những vụ lật thuyền, đắm thuyền mà con người đổ cả cho hà bá, cũng là vì lý do này.

< Cầu Hang Tôm sẽ bị Ngập Nước khi chặn dòng sông Đà.

Từ cầu Hang Tôm - cây cầu dây văng lừng danh miền Bắc một thời - có thể thấy rõ ngã ba sông Đà. Cây cầu nối liền hai bờ vui này giờ chỉ còn chờ ngày nước dâng là cũng chìm nghỉm vào hàng vạn khối nước. Những sợi cáp to bằng cổ tay, những khối bêtông xám xịt... tất cả đều im lìm, hiu hắt. Những du khách nghe danh cây cầu này, khi đi qua đây đều dừng chân chụp vài tấm ảnh rồi lại vội vã lên đường.

Thị xã Lai Châu (cũ) buồn và heo hút tới nao lòng. Chẳng ai hình dung được đây từng là trung tâm tỉnh lỵ trong mấy chục năm trời. Cả thị xã, chỉ có khu vực ngã ba gần cây xăng là trông có vẻ còn sức sống hơn cả. Vài hàng quán lụp xụp, bán chác nhì nhằng những thứ đồ vật dụng rẻ tiền. Thị xã này cũng sẽ chìm sâu trong làn nước cả, mang theo biết bao huyền thoại, bao chứng tích của lịch sử.

Tôi đi lòng vòng vô định trong thị xã nhỏ bé này, miên man nghĩ về một nơi mà chẳng bao lâu nữa sẽ chỉ còn trong hoài niệm. Biết đâu lần sau qua miền Tây Bắc, tôi sẽ lại đi trên mảnh đất này, nhưng bằng thuyền... Rốt cuộc, những suy nghĩ mông lung ấy cũng phải lắng xuống vì chặng đường trước mặt chúng tôi còn rất dài, những con đèo mà chỉ mới nghe tên đã thấy ngao ngán.

Còn tiếp
Tây Bắc mùa dã quỳ nở (Kỳ 1)
Sông Đà - người bạn tri âm (Kỳ 2)
Ấn tượng những con đèo (Kỳ 3)

Du lịch, GO! - Theo Dantri, internet
Trước chuyến đi Tây Bắc lần này, tôi lầm tưởng hoa dã quỳ chỉ mọc ở miền Trung - Tây Nguyên. Nhưng không phải thế, cả một vùng Tây Bắc, dã quỳ nở rộn ràng hai bên đường. Thứ hoa dại mang màu vàng rực ấy có sức cuốn hút lữ khách kỳ lạ.

Nơi cái rét tung hoành

Tây Bắc thường được coi là đẹp nhất vào mùa xuân, lúc ấy dọc đường trăm hoa đua nở. Vì coi như thế nên thiên hạ thường tìm lên Tây Bắc vào mùa xuân hoặc mùa hạ, chứ chẳng mấy ai đi vào lúc miền Bắc rét đậm như tôi. Đi rồi mới vỡ lẽ, cuộc sống Tây Bắc luôn đầy màu sắc, và ấm áp ngay cả trong những ngày đông giá.

Từ Hà Nội theo quốc lộ 6, đi mải mốt hơn 200km thì lên đến Mộc Châu. Mặc dù vẫn biết là tôi đang lên Tây Bắc trong những ngày rét nhất của mùa đông năm nay, đã chuẩn bị rất nhiều quần áo rét, nhưng tôi không tưởng tượng được cái rét ở Mộc Châu lại ghê gớm đến thế.

Chiều tối, Quốc lộ 6 mờ ảo trong sương chiều bảng lảng. Những con đèo quanh co không nhìn rõ đường. Xe ngược chiều đã bắt đầu phải bật đèn pha. Những người Mông đi lấy củi cũng đã về, gùi trên lưng những gánh củi nặng trĩu...

Hoàng hôn buông xuống thị trấn Thảo Nguyên. Vẻ u ám của tiết trời mùa đông không làm giảm đi sự tấp nập ở đây. Những công nhân làm việc trong nông trường chè và các nông trường bò sữa trong vùng hối hả mua thực phẩm cho bữa cơm chiều. Anh bạn đồng nghiệp đã lên Thảo Nguyên cách đây 6 năm, giờ tìm lại vào một nhà người quen, anh gần như không xác định được đường. Khác nhiều quá, thị trấn nhỏ bé giữa thảo nguyên quạnh quẽ ngày nào giờ trở nên thật sầm uất, xe cộ đi lại như mắc cửi.

Cuộc tìm kiếm vào nhà một người quen dần trở nên vô vọng. Anh bạn nói lại: Đó là một quá trà nhỏ, sạch sẽ và bán trà rất ngon. Trà ngon tới mức lần đầu lên Thảo Nguyên, anh chỉ ngồi uống một chén trà cùng ông chủ quán trải đời thì bao nhiêu mệt nhọc dặm đường đều tiêu tán.

Thật đáng tiếc, cả hai chúng tôi vòng đi vòng lại tới mấy lượt nhưng rốt cuộc chẳng thấy quán trà ngày xưa đâu. Có lẽ ông chủ đã đổi nghề, hoặc đã chuyển đi nơi khác sinh sống.

Thị trấn Thảo Nguyên cách thị trấn Mộc Châu khoảng 7km. Mộc Châu thì đã trông ra dáng phố lắm, không còn nhiều nét cục mịch thôn dã như ở Thảo Nguyên. Đêm ở Thảo Nguyên sương xuống đậm đặc và rét khủng khiếp. Cái lạnh như toát từ trong xương trong thịt ra nên dù có mặc bao nhiêu áo, chúng tôi vẫn rùng mình.

Phải đến 9-10h sáng thì sương ở đây mới hầu như tan hết. Một sớm đông, cái gì ở đây cũng trở nên tinh khôi hơn bao giờ hết. Những dãy núi xám ngoét tôi nhìn thấy tối hôm trước, giờ trở nên xanh đẫm rất đẹp.

Đêm ở bản Phêng Đất B

Mùa này, nhiệt độ ở Tây Bắc vào những hôm nắng ráo luôn thấp hơn dưới xuôi tới vài ba độ. Đường 6 cũ, đoạn từ Tuần Giáo lên tới Lai Châu dài 80km, xấu kinh khủng. Con đường giống như hoang lộ hơn là một quốc lộ. Gần một ngày đường, chúng tôi chỉ thấy duy nhất một chiếc xe U-oát chạy vội vã về phía Tuần Giáo, xóc tưng tưng.

Đường rất hẹp, lòng vòng xuyên qua các bản làng. Những đứa trẻ, thậm chí cả người lớn, luôn reo lên và giơ tay chào thân thiện mỗi khi thấy chúng tôi. Đây không phải lần đầu tôi lên Tây Bắc, nhưng những cảm xúc và tình cảm về những con người thân thiện ấy vẫn rất mới mẻ, tựa hồ như giữa tôi và họ đã là những người bạn thân thiết.

Phêng Đất B là một bản của người Thái, nằm bên cạnh một dòng suối xanh biếc. Dòng suối to và kỳ vỹ tới mức lúc đầu, tôi ngợ là sông Đà. Chiều tà, cả bản có ba chục nóc nhà sàn nằm sát nhau, gọn gàng trong một trảng đất, đẹp và nên thơ tới kỳ lạ, tới mức người bạn đồng nghiệp của tôi quyết định sẽ ngủ đêm tại đây.

Đường từ Quốc lộ xuống bản gần như dựng đứng, rất bé. Thế nhưng những gia đình khá giả trong bản vẫn mua xe máy và vẫn lên lên xuống xuống hàng ngày. Họ nói, con đường này họ đã quen thân với từng viên đá cuội. Những người già chỉ cho chúng tôi tới nhà trưởng bản. Phải được sự đồng ý của nhân vật này thì những viễn khách như chúng tôi mới được lưu lại qua đêm.

Trưởng bản là anh Lò Văn Thương. Chúng tôi ngồi trong nhà anh Thương tới lúc trời tối mịt thì anh về, trông anh còn rất trẻ và vạm vỡ. Anh Thương vào rừng tìm trâu, chuẩn bị cho vụ cấy đông - xuân. Anh nói, “ở đây trâu nhà ai cũng thả trong rừng hết, khi cần mới vào rừng tìm”. Những con trâu không bao giờ bị lạc ấy là tài sản của cả bản. Vậy nên đã bao đời nay, ở đây chẳng ai mất trâu bao giờ.

Buổi tối, anh Thương thết đãi chúng tôi món thịt vịt. Anh trấn an một cách rất hiểu biết: “Nhà báo đừng ngại cúm. Thứ nhất ở đây không có dịch, vịt gà khoẻ là ăn tốt. Thứ hai, luộc sôi kỹ lắm rồi. Nếu có cúm cũng chẳng con virus nào sống được”.

Người dân ở bản này sống theo kiểu tự cung tự cấp. Chợ rất xa, đi mất cả buổi mới tới. Bởi vậy hoạ hoằn mới có người đi chợ. Cá dưới suối thì nhiều vô kể. “Vào mùa nhiều cá, chúng tôi ăn tới phát ngán - anh Thương kể - thậm chí thèm rau hơn thèm cá. Nhiều lắm, nhưng dân bản không dùng kích điện đánh bắt. Tôi nói, nếu dùng kích điện thì chẳng mấy nỗi mà hết cá. Vậy là bà con nghe. Hôm nào vào mùa cá các anh lại lên đây, cá suối nấu canh chua thì hết ý”.

Đến hơn 8 giờ tối thì căn nhà chộn rộn tiếng người. Mấy đứa trẻ trong bản lục tục kéo đến nhà anh xem phim. Cả bản có vài chiếc TV, mà TV màu hẳn hoi. Điện được kéo từ nguồn thuỷ điện ngoài suối. Vợ chồng anh Thương mau mắn đi dọn dẹp cho chúng tôi một chỗ ngủ, có cả đệm.

Đêm nằm bản, chăn ngắn, quấn được đầu thì hở chân. Có bao nhiêu quần áo rét, tôi mặc cả vào người. Ở xó bếp, đống lửa cháy âm ỉ cũng chẳng xua cái lạnh đi được là bao. Cả đêm tôi nằm xoay xó với chiếc chăn ngắn ngủn. Nhà sàn, gió đại ngàn thổi vào từng cơn rét thấu óc. Anh Thương lúc đầu còn nói chuyện được vài ba câu, sau rồi giọng anh trở nên đứt quãng và tiếng ngáy bắt đầu đều đều. Chắc hẳn công việc ban ngày đầy mệt nhọc khiến cho tay lực điền ấy đắp ít chăn hơn tôi mà vẫn ngủ ngon lành, không hề thấy lạnh.

Cả đêm hôm ấy, chúng tôi hầu như không ngủ được, phần vì lạnh, phần vì những câu chuyện về sông Đà, về phong tục người Thái mà anh Thương kể lúc chập tối cứ mãi ám ảnh. Con sông Đà duyên nợ gắn với cả cuộc đời những người Thái ven sông là cả một câu chuyện dài...

Còn tiếp
Tây Bắc mùa dã quỳ nở (Kỳ 1)
Sông Đà - người bạn tri âm (Kỳ 2)
Ấn tượng những con đèo (Kỳ 3)

Du lịch, GO! - Theo Dantri, ảnh minh họa internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống