Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Saturday, 16 February 2013

Bánh nhãn được xem là đặc sản của vùng quê lúa Nam Định. Vùng Hải Hậu nổi tiếng làm loại bánh này ngon nhất.

Dịp Tết, hầu như nhà nào cũng nấu được mẻ kẹo lạc nhưng bánh nhãn thì không bởi làm bánh nhãn rất kỳ công và tốn kém. Tết đến, mỗi lần làm bánh nhãn, mẹ chồng tôi thường kể câu chuyện ấn tượng với chảo bánh nhãn hồi còn bé.

Hồi đó, mẹ là chị cả với một đàn em trứng gà, trứng vịt, lúc nào cũng tha lôi nhau đi chơi. Tết năm ấy, liêu xiêu trong gió lạnh thấy ấm sực mùi mỡ lợn rán, bám theo hương thơm ấy, ba đứa trẻ đứng trước chảo bánh nhãn của nhà bà Mùi, hộ khá giả nhất ở đầu xóm, lúc nào không hay.

Những viên bánh nhãn vàng ruộm, to bằng đầu ngón chân cái cứ xoay đều theo nhịp đảo của hai cái đũa cả to đùng. Bà Mùi nhìn ánh mắt thèm thuồng của ba đứa trẻ, hứa sẽ cho mỗi đứa hai viên. Đúng lúc bà rút lửa vớt bánh ra rổ thì nghe tiếng bà ngoại gọi vóng vót. Mẹ sợ quá, bế dì chạy về, bị bà mắng cho cái tội đi chơi lâu. Cậu tôi ráng chờ bằng được mấy viên bánh nhãn vừa “ra chảo”, cứ hai tay đảo nhau, miệng thổi phù phù, gương mặt hớn hở chạy về nhà...

Tết thứ hai về làm dâu, tôi được bố mẹ chồng bày cho làm bánh nhãn. Mẹ tôi về tận nhà cô ruột chuyên buôn gạo ngon nổi tiếng để mua gạo nếp. Trứng gà thả vườn đã chờ sẵn. Và vài cân mỡ phần trắng ngần được bố thái mỏng sôi lục bục trên bếp.

Làm bánh nhãn kỳ công ngay từ khâu đầu. Gạo làm bánh phải là nếp mùa, loại ngon. Khi xóc gạo để làm bánh nhãn không được thò tay vào mà bóp, mà xoa. Muốn nhặt sạn, nhặt thóc phải làm từ lúc gạo khô. Khi đã cho vào rá thì chỉ làm sạch bằng nước và xóc gạo trong rá. Nhấc gạo từ dưới nước lên thì cứ để nguyên không được di chuyển  thì rá gạo lớn đến mấy cũng khô khảo để đem đi xay mịn. Chẳng may cho tay vào khuấy thì coi như hỏng vì gạo sẽ không khô được.

Công thức làm bánh nhãn là 12 quả trứng gà/1kg bột. Bột sau khi xay mịn phải dùng rây để lọc lại, sờ vào mát tay, không một chút gợn mới đạt yêu cầu. Đổ bột vào chậu to, đập trứng gà vào và đánh nhuyễn với bột. Khâu nhồi bột cần mạnh tay, đều tay và dai sức, đến khi nào bột quyện với trứng vàng xốp, nhẵn lạnh như thạch thì được. Khi nặn bánh phải chắc tay, tròn nhưng không rạn, không ướt nước và xếp tăm tắp trên mặt mâm như bánh trôi.

Làm bánh nhãn tay chân, dụng cụ đều phải khô ráo vì chỉ cần dính tí nước lã thôi thì bánh sẽ bị nổ ngay. Mỡ sôi lăn tăn thì cho bánh vào rán. Khi đảo phải nhẹ và đều tay để bánh tròn như lòng đỏ trứng, không dính, nở đều.

Thắng đường cũng đòi hỏi kỹ thuật cao. Nếu quá lửa thì đường cứng, bám dày mà không đều khắp mặt bánh. Thiếu lửa thì màu đường đục, ít bám dính vào bánh. Phải làm sao để đường tan chảy vừa độ (mẹ tôi đo bằng cách khi đường vừa chuyển màu trong thì nhỏ một giọt vào bát nước lạnh, nếu viên đường vê tròn lại trong bát nước là được), cho bánh vào đảo sẽ bám đều, mỏng dính một lượt quanh viên bánh, không che phủ mất màu vàng ruộm của những viên bánh vừa rán, tạo một màng trắng trong hấp dẫn như cùi nhãn.

Giờ thì bánh nhãn Hải Hậu được làm công nghiệp với nhiều loại máy móc hỗ trợ từ xay bột, đập bột, rán bánh đến hồ đường. Bánh có quanh năm và thương hiệu “bánh nhãn Hải Hậu” đã vượt khỏi làng, khỏi tỉnh. Mỗi ngày sản xuất hàng tấn bánh, cao điểm dịp Tết các nhà phải làm ngày làm đêm mới đủ hàng để giao. Ngay Hà Nội cũng có nhiều siêu thị, đại lý bán bánh nhãn Hải Hậu, nhưng nhiều gia đình gốc gác Hải Hậu vẫn giữ nếp cũ dành thời gian tự tay làm bánh nhãn dịp Tết để cúng ông bà, tổ tiên và tặng bạn bè.

Ăn viên bánh nhãn mình làm rất thơm ngon, biếu nhau gói bánh nhãn thì rất quý vì ai cũng biết làm bánh nhãn kỳ công lắm, biết mình làm được gói bánh nhãn vất vả thế nào, nó thể hiện tình cảm trân quý dành cho người thân, bạn bè.

Du lịch, GO! - Theo Anh Vũ (TTXuân)
Mùa xuân, lên cao nguyên đá Hà Giang mới cảm nhận được sự chuyển mình của thiên nhiên nơi đây. Hoa như biết mỉm cười và đá cũng biết gật đầu.

< Đường lên cao nguyên đá Hà Giang.

Mảnh đất Hà Giang nơi địa đầu cực bắc của Tổ quốc với hai phần ba là đá, vì vậy đi đến đâu như cũng chạm vào đá, chạm vào những nụ cười của đồng bào dân tộc nơi đây. Cảnh quan môi trường đậm nét nguyên sơ với bạt ngàn núi đá tai mèo trải rộng khắp bốn huyện vùng cao núi đá phía bắc. Ở phía tây, những ruộng bậc thang gối nhau trùng điệp.

< Thấp thoáng những áng hoa đào.

Những núi đá cao ngất. Những thung lũng đá vốn xám xịt ngày thường thì cứ mỗi độ xuân về, những địa danh Cổng Trời, Quản Bạ, Lũng Cú hay Đồng Văn đều ngập tràn những cây đào phai đua nhau khoe sắc tạo thành bức tranh mùa xuân lộng lẫy, huyền ảo.

< Trẻ em vùng cao như những đóa hoa sống.

Đồng bào dân tộc Mông nơi đây có tục lệ ăn tết kéo dài đến hết tháng giêng, bạn sẽ được thưởng thức những món ăn đặc sản như thắng cố, cháo ấu tẩu, nộm tái dê…

Đến với Hà Giang, ngoài các món ăn đặc sản vùng cao, bạn cũng không thể từ chối, bỏ qua chén rượu ngô thơm mát được chế biến từ ngô, hạt đồ chín ủ với men lá (men lá được chế từ hơn 30 loại thảo dược  trong rừng) và được chưng cất từ nguồn nước tinh khiết trên núi.

Hiện có nhiều loại rượu ngô ngon nổi tiếng như rượu ngô Thanh Vân (Quản Bạ), rượu Nà Mạ (Yên Minh), rượu Thiên Hương (Đồng Văn)...  được khách trong ngoài tỉnh ưa chuộng.

Nhưng không chỉ say vì rượu ngô, miền núi cao này còn dễ làm người ta “say” vì sương mờ quấn quýt trên đỉnh núi; vì những cung đường uốn lượn; vì những ngôi nhà có vách đất trình tường vàng màu đất; vì những mảnh khăn, chiếc váy xòe xanh đỏ của những người trỉa bắp thấp thoáng trên triền núi...

Và tất nhiên vì cả loài hoa đã làm nên nét quyết rũ của cao nguyên địa đầu Tổ quốc mỗi khi xuân về...

Du lịch, GO! - Theo Khắc Thành (DulichTuoitre)
Tồn tại giữa mênh mông rừng già xã Vĩnh Sơn (H.Vĩnh Thạnh, Bình Định) hàng trăm năm qua nhưng thành đá Tà Kơn vẫn còn nhiều bí ẩn.

Ở Bình Định, sông Côn được mệnh danh là “dòng sông vương triều”, bởi nó gắn liền với các cuộc khởi nghĩa vang dội của những người áo vải khi đã từng xuôi dòng sông Côn về hạ lưu để làm nên một chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa, Rạch Gầm Xoài Mút, thống nhất đất nước, làm nên một tên tuổi hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ. Thượng nguồn sông Côn miền Tây Sơn thượng đạo chính là nơi còn lưu giữ nhiều huyền thoại về anh em nhà Tây Sơn, và một trong những điều hấp dẫn nhất đó là câu chuyện về thành cổ Tà Cơn thuộc làng Kon Blo, nằm sâu trong cánh rừng ở Vĩnh Sơn, Vĩnh Thạnh, Bình Định.

Truyền thuyết

< Người Ba Na trong làng Kon Blo.

Theo già làng Đinh Chương (ở làng Kon Blò, xã Vĩnh Sơn), Tà Kơn trong ngôn ngữ Ba Na có nghĩa là “chồng lên nhau”, ý muốn nói đến những hòn đá được xếp chồng lên nhau một cách rất lạ không ai hiểu được.

Quá trình xây thành, giữ thành Tà Kơn được kể lại bằng hơ mon (hát kể sử thi Ba Na) đắm màu huyền thoại. Một truyền thuyết cho rằng Tà Kơn xưa kia vốn là nhà của 3 anh em, gồm 2 vị vua Trum, Trăm và nàng công chúa xinh đẹp, thông minh tên Bia Tơni.

< Đường rừng vào thành cổ Tà Cơn.

Một truyền thuyết khác về nguồn gốc của thành Tà Kơn gắn liền với nàng Hơ Bia xinh đẹp. Thần núi muốn cưới Hơ Bia làm vợ. Nhưng thần có khuôn mặt bằng đá, dưới cằm có yếm như yếm bò cái trông rất xấu xí nên Hơ Bia không hài lòng, yêu cầu nếu thần vượt qua được ba cuộc thử tài của nàng thì sẽ chấp nhận lời cầu hôn. Thần núi đều vượt qua tất cả những lần thử tài nên hai người thành vợ chồng và cùng nhau xây dựng thành Tà Kơn.

Trong truyện cổ Ba Na Kriêm có đoạn: “Không rõ hai anh em Đrum và Đrăm từ đâu đến, thấy có hòn đá đẹp họ dừng lại, đặt tên ná một bên rồi mài lại rựa. Lưỡi dao chỉ liếc qua một tí đã sắc lẻm, chặt cây lớn mấy cũng ngã, đụng đến đá cứng mấy cũng đứt liền. Thấy Đrum, Đrăm khoẻ đẹp và có hòn đá trời cho nên dân làng Kon Blo, từ em bé mới biết đi đến người già chống gậy đều dắt díu nhau đi theo họ lập làng mới.


< Anh Đinh Khuất, người dẫn đường đến thành Tà Kơn.

Ngày trước, làng Kon Blo thường bị giặc phá, năm nào dân chúng cũng phải rời làng. Giờ có Đrum, Đrăm, có hòn đá đẹp, dân làng hăng hái mài dao, mài rựa để chặt đá, xây thành giữ làng. Đồng bào Kon Blo chặt đá vuông vức, kê lên nhau xây thành hình móng ngựa trên một sườn núi. Bên trong, dân làm chuồng trâu, đào hầm giấu lúa gạo, làm nhà rông, nhà bếp, đào hào, đào đường xuyên núi”.

Bên cạnh truyền thuyết của người Ba Na, có ý kiến cho rằng thành Tà Kơn do anh em nhà Tây Sơn xây dựng nên. Khi 3 anh em nhà Tây Sơn chiêu binh mãi mã, người Ba Na hưởng ứng rất mạnh mẽ và họ đã cùng nhau dựng nên thành Tà Kơn làm cứ điểm bí mật. Gần Tà Kơn còn có nhiều di tích liên quan đến cuộc khởi nghĩa của nhà Tây Sơn như Hòn Còng (huyện K’bang, Gia Lai), núi ông Bình, núi ông Nhạc (theo tên của Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc), núi Phát Lương, Vườn cam Nguyễn Huệ…

Thâm u huyền bí

Hành trình đi dọc sông Côn từ hạ lưu lên thượng nguồn, chúng tôi như trở về miền ký ức, những câu chuyện ngàn năm cứ trải dài qua từng vùng đất, di tích, con người. Và trong suốt hành trình ấy, chúng tôi luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh thành cổ Tà Cơn với những huyền thoại gắn liền từ sử thi đến những câu chuyện cổ.

Tại khu di tích vườn cam Nguyễn Huệ thuộc xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định, theo chân những người bản địa, chúng tôi làm cuộc hành trình băng rừng tìm đến thành Tà Cơn ở làng Kon Blo. Trong ngôn ngữ của người Ba Na, Kon Blo có nghĩa là “đá xếp”.

Từ trụ sở xã Vĩnh Sơn, chúng tôi sử dụng phương tiện xe máy để đến bìa rừng. Nhóm sáu người dẫn đường đều là cư dân địa phương, dù sinh ra và lớn lên ở rừng núi Vĩnh Sơn, nhưng chỉ Đinh Klăm ở thôn K8 là người từng đến thành cổ Tà Cơn, và hành trình đi rừng của chúng tôi dồn hết hy vọng vào người dẫn đường này.

Gần đến bìa rừng, đường đi mỗi lúc một khó khăn hơn, chúng tôi rời phương tiện xe máy, đi bộ tiến sâu vào rừng. Trên đường đi, chúng tôi gặp những bà con dân tộc Ba Na đi phát rẫy về, hỏi về thành cổ Tà Cơn nhưng chẳng ai biết đến.


< Một đoạn thành bị đổ, đá nằm ngổn ngang.

Đường đến thành Tà Kơn là một lối mòn nhỏ, luồn lách trong những cánh rừng nguyên sinh thâm u, huyền bí. Có những đoạn bị cây rừng che kín phía trên khiến người ta có cảm giác như đang đi trong hang động nằm dưới đất sâu. Theo anh Đinh Khuất (con trai già làng Đinh Chương), đường đến Tà Kơn bây giờ cũng chính là con đường mà ngày xưa tổ tiên của người Ba Na vận chuyển đá, vật liệu… để xây thành. Vừa đi, anh Khuất vừa giới thiệu về những dấu tích mà tổ tiên mình đã để lại.

Khi người Ba Na xây thành Tà Kơn, họ không được phép đi bộ đến nơi làm việc mà phải đu mình theo một cái dây dài và cao đến hàng trăm mét, từ núi Kon Hray băng qua suối Trú để đến Văn Len. Đây chính là nơi nghỉ chân, chuẩn bị dụng cụ để bắt đầu ngày làm việc mới. Từ Văn Len nhìn xuống suối Trú sẽ thấy thác Dá Bda, nơi công chúa Bia Tơni thường tắm. “Mỗi khi Bia Tơni tắm, mặt trời trên đỉnh núi tỏa sáng, mặt nước dưới suối rực rỡ những sắc cầu vồng. Ngay thác nước có cây cau nhưng chỉ sinh đúng 1 buồng cau có hình dạng hệt như Bia Tơni xinh đẹp” - anh Khuất hào hứng kể lại.


< Vẻ đẹp của thành Tà Cơn trong rừng sâu.

Đi bộ trong rừng gần 2 giờ đồng hồ chúng tôi mới đến được thành Tà Kơn. Ấn tượng đầu tiên là bức tường thành cao gần 20 m, dài hàng trăm mét gồm những phiến đá to bằng mặt bàn, có hình lục lăng, hình trụ chữ nhật… xếp chồng lên nhau theo một hàng thẳng đứng. Gần tường thành có những tảng đá to riêng lẻ xếp chồng lên nhau như những cây cột khổng lồ. Có một đoạn thành bị sập, đá đổ xuống ngổn ngang trên mặt đất. Ngay đầu tường thành có một hang đá sâu thẳm, tối om. Theo lời anh Khuất thì đó là con đường bí mật dẫn đến thung lũng dưới chân thành nơi có nhà ở của 2 vua Trum, Trăm.

Theo khảo sát, tường thành là những khối đá sa thạch lớn, hình trụ được xếp ngay ngắn chồng lên nhau. Khoảng nối giữa hai phiến đá khít chặt, rất giống với lối xây dựng quen thuộc trong các kiến trúc đền đài ở đất nước Campuchia thời kỳ Angkor. Rải rác đây đó là những gốc cổ thụ khổng lồ nhả rễ ôm kín lấy tường thành, cũng giống như những cây nuốt đền trong các di tích Angkor.

Anh Đinh Khuất kể: “Khi đi xây thành Tà Kơn, người làng Kon Blò mang theo đao, rựa nhưng phải mài bằng đá do anh em Trum, Trăm đưa ra thì mới sắc bén lạ thường, chặt đá như chặt củi. Một hôm, có người trong làng nghĩ đao, rựa của mình có khả năng chặt đá mới đem chặt thử hòn đá trước nhà nhưng cây rựa bị gãy làm đôi. Người đời sau đến thành Tà Kơn tìm đá mài của 2 vua Trum, Trăm nhưng chẳng ai tìm được”.


< Vết nối giữa hai tầng đá.

Đứng trước bức tường đá sừng sững, bao quanh núi, anh cho chúng tôi biết những người đi rừng giỏi nhất vùng Vĩnh Thạnh cũng chưa ai đi hết tường thành Tà Cơn. Vì đường đi đầy nguy hiểm, bên là vực sâu, bên là vách tường thành dựng đứng, cộng với những câu chuyện huyền bí về thành cổ, khiến Tà Cơn trở thành một địa điểm bí ẩn nằm sâu trong rừng thiêng, hoà với không khí âm u của núi rừng càng làm cho thành cổ thêm hoang tàn, ít người lui tới, qua lại.

TS Đinh Bá Hòa, Giám đốc Bảo tàng Bình Định, cho rằng Tà Kơn là sản phẩm của tự nhiên vì con người không thể xây dựng một thành đá hùng vĩ như thế. “Bảo tàng Bình Định và các cơ quan chức năng đang phối hợp lập hồ sơ đề nghị công nhận Tà Kơn là di tích cấp huyện. Chúng ta phải đánh thức Tà Kơn cho mọi người biết đến chứ không thể để một di tích đẹp như thế ngủ mãi trong rừng sâu” - TS Đinh Bá Hòa nói.

Chia tay những phiến đá vô tri của thành Tà Cơn nhưng ẩn chứa cả một huyền thoại gắn liền với các tích truyện lịch sử về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, chúng tôi biết rằng, những bức tường đá rêu phong kia sẽ vẫn mãi còn đó, lặng lẽ chốn rừng sâu, nhưng ôm trọn trong lòng niềm tự hào của đất trời miền Tây Sơn thượng đạo.

Đường đến thành cổ Tà Cơn:

Từ thành phố Hồ Chí Minh đi theo quốc lộ 1A về phía bắc khoảng 649km đến thành phố Qui Nhơn. Từ đây đi theo quốc lộ 19 khoảng 80km đến Đồng Vắt sau đó rẽ phải đi theo tỉnh lộ 637 khoảng 70km đến làng Kon Blo - Vĩnh Sơn – Vĩnh Thạnh. Đến đây du khách sẽ được người dân địa phương chỉ đường đến thành cổ Tà Cơn.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Thanhnien, SGTT, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống