Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Saturday, 23 February 2013

Sông Đắk Bla là một con sông đổ ra Sông Sê San. Sông có chiều dài 157 km với diện tích lưu vực là 3.436 km². Sông Đắk Bla như một dải lụa mềm chảy qua các tỉnh Kon Tum, Gia Lai.

< Sông Đắk Bla đoạn chảy qua thành phố Kon Tum.

Khác với một số dòng sông ở Tây Nguyên, thường bắt nguồn từ Trường Sơn chảy về biển Đông, sông Đắk Bla với chiều dài trên 100km lại chảy theo hướng Tây Trường Sơn, từ địa phận huyện Kon Plong ở phía Tây của tỉnh Kon Tum chảy về thành phố cùng tên, hợp với sông Pô Kô từ hướng Bắc đổ xuống thành con sông lớn Sê San hùng vĩ. Vì điểm đặc biệt này, sông Đắk Bla còn được gọi là dòng sông chảy ngược.

< Một số đoạn đã được xây bờ kè và trồng cỏ trông rất đẹp.

Đến đây, bạn sẽ có cơ hội thăm những ngôi làng của người dân tộc thiểu số còn giữ nguyên được nét hoang sơ, cùng thưởng thức rượu cần, điệu múa xoan truyền thống, nghe những âm thanh của tiếng cồng, tiếng chiêng rộn rã...

< Có những cồn cát nổi chia đoạn sông thành hai nhánh.

Trong hành trình khám phá vẻ đẹp sông nước Đắk Bla - Kon Tum du khách sẽ có những kỷ niệm đáng nhớ khi được xuôi ngược dòng sông này trên thuyền độc mộc của người Bana (thuyền thường được làm ra từ một cây gỗ lớn).

< Cầu Đắk Bla.

Ở đây bạn sẽ có cơ hội thăm những ngôi làng của người dân tộc thiểu số còn giữ nguyên được nét hoang sơ, cùng thưởng thức rượu cần, điệu múa xoan truyền thống, nghe những âm thanh của tiếng cồng, tiếng chiêng rộn rã, thăm cầu treo Kon Klor, cây cầu treo đẹp và dài nhất Tây Nguyên...

< Khách sạn Indochine bên sông Đắk Bla.

Một trong những điểm đến trên tuyến du lịch sông nước này là làng Kon Jơ Ri. Từ Kon Jơ Ri, bỏ đường cái lớn, băng ngang qua làng, qua các nương rẫy và khom người luồn trong một cánh rừng nhỏ trước khi đổ ra con đường mòn chạy dọc theo vách núi của bờ sông. Nếu không ngắm nhìn cảnh quan núi rừng, nương rẫy và sinh hoạt của cư dân hai bên bờ sông, bạn có thể một mình đón thuyền độc mộc trên bến đò làng Kon Tu để ngược dòng về Kon Bã - điểm mà du khách phải tới trước khi xuôi dòng.

< Thuyền độc mộc trên lòng hồ Ya Ly.

Mùa sông cạn, nước mát lạnh và trong vắt nhiều chỗ nhìn thấy đáy. Nhưng cũng có nhiều chỗ eo nước sâu hàng chục mét. Dòng nước lúc lững lờ, lúc cuồn cuộn gầm réo trên ghềnh đá. Cầm lái chiếc thuyền độc mộc dài khoảng 5m nhưng chiều rộng chưa tới 0,5m là A Thuyết, người Ba Na ở làng Kon Tu, khoảng 25-26 tuổi, da đen giòn, chân tay chắc nịch và rất dễ gần.

< Khách du lịch nước ngoài tham gia tour du lịch trên sông.

Mỗi lần đưa khách đi như vậy A Thuyết được Công ty Du lịch Kon Tum trả 40.000 đồng. Thuyết cho biết ngày xưa người làng anh có nhiều thuyền độc mộc lắm nhưng bây giờ đã bán đi nhiều rồi.

Thuyền độc mộc gắn bó với người Ba Na ở dòng sông này như bạn tri âm. Thuyền giúp người Ba Na vận chuyển lúa, ngô trên nương rẫy, măng, củi, gỗ... trong rừng ngược xuôi về làng. Ngày nhàn, thong dong thuyên quăng vài mẻ lưới thế nào cũng kiếm được vài ký cá tôm đem về cho vợ con và lai rai rượu cần với bạn bè. Hoặc lên đầu nguồn vào rừng bẫy con chim, con thú ra sông uống nước. Ngày nhàn, thong dong thuyền trên dòng sông, chàng trai chưa vợ trổ tài tiếng hú và điệu hò thế nào cũng được cô gái đến bắt làm chồng.

< Các thiếu nữ bên sông.

Thuyền càng tiến về thượng nguồn, hai bên dòng sông thường là những vách núi dựng đứng. Có đoạn, giữa dòng sông lại gặp một cồn cát nhô lên chia đôi dòng nước, thỉnh thoảng lại gặp một bẫy bằng tre nứa, chung quanh cắm lá và cỏ, trong bẫy là bã rượu cần. Mùi thơm của rượu sẽ lôi cuốn cá vào ăn. Có hôm Thuyết tóm được những con cá chép to đến 5-6kg.

Nằm trong khoang thuyền, tắm mình cùng non xanh nước biếc, chẳng mấy chốc thuyền đã đến ngã ba nơi hợp lưu với con sông Đục hướng từ xã Đăk Pne (Kon Rẫy) và Hà Tây (Chư Pả, Gia Lai) đổ về. Tiếp tục ngược sông Đăk Bla một đoạn nữa, thuyền đến bến Kon Bã.

Chúng tôi cùng nghỉ trưa dưới bóng mát những cây sung trên bờ. Đôi vợ chồng mới cưới Laurent (37 tuổi) và Anita (29 tuổi) đi hưởng tuần trăng mật, từ Paris đến Hà Nội và đã đi nhiều nơi ở Việt Nam trước khi đến đây. Laurent nói anh rất thích cảnh đẹp hoang sơ của sông nước núi rừng Đăk Bla. Laurent – Anita sau đó đã sung sướng ngụp lặn trong dòng nước mát.

< Hoàng hôn trên sông Đắk Bla.

Sau khi tắm mát, nghỉ ngơi và dùng bữa trưa bên bờ sông, chúng tôi cứ hai người một thuyền cùng với lái đò xuôi Đăk Bla. Chiều về dòng sông Đăk Bla trở nên nhộn nhịp hơn. Trên sông, những thanh niên người dân tộc Ba Na dùng ruột xe ôtô đưa những cây gỗ từ thượng nguồn xuôi về làm nhà.

Những vị khách Tây mặt mày rạng rỡ, thích thú nằm dài trong khoang thuyền ngắm nhìn nắng vàng trải thảm sườn núi, trên bầu trời xanh có con diều hâu dang cánh chao lượn tìm mồi. Và ấn tượng mạnh nhất trong chuyến đi xuôi dòng là khi thuyền chúi mũi xuống dòng nước cuồn cuộn chảy lúc qua những ghềnh đá, nhưng những tay lái cự phách người Ba Na luôn bảo đảm an toàn cho khách và chưa hề có trường hợp đáng tiếc nào xảy ra.

Hiện nay, du lịch khám phá dòng Đắk Bla đang được các công ty du lịch lữ hành trên địa bàn tỉnh khai thác, thu hút được số lượng lớn du khách, nhất là du khách quốc tế. Trong thời gian tới, du lịch trên sông Đắk Bla sẽ là một trong những hành trình quan trọng trong phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn thành phố Kon Tum.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Infonet, TTXVN
(Tiếp theo)
Tôi nhìn vào đảo, bức tường khắc bài thơ “Nam quốc sơn hà” ở trên cao. Tôi hình dung như thấy vị Thái úy Lý Thường Kiệt đang đứng sừng sững, nhìn bao quát cả khu Đá Tây.

Cả vùng biển lớn. Ngài như đang cùng con cháu quyết bảo vệ bằng được vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

< Vững vàng trên biển rộng.

"Một người chúng tôi còn thì nhà giàn vẫn còn. Chúng tôi xác định mỗi một nhà giàn là một cột mốc nổi thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam trên Biển Đông..."

Đảo nổi An Bang

Không rõ ai đặt tên đảo là An Bang, có lẽ cầu mong giữ yên một vùng biển đảo của Tổ quốc. Đảo thì nhỏ mà sóng lớn gần như quanh năm. Sau mấy ngày đàn cá heo có lẽ rất quen với con tàu HQ 996 trong chuyến đi các đảo, nên chúng liên tục bám theo tàu. Lúc thì chúng vờn sát hai bên mạn, lúc thì vọt lên phía trước. Ngồi trong buồng lái tàu gần người lái chính, Hiền nói nhỏ: Biển sắp động. Cá heo báo mấy lần rồi. Anh về buồng nghỉ, dưới hầm tàu đỡ lắc.

Sáng sớm con tàu HQ 996 thả neo đỗ ở ngoài xa đảo An Bang, biển nổi sóng. Chiếc xuồng có ca nô dắt chở lãnh đạo đoàn và số đông phóng viên, chạy chậm cắt sóng chờ ca nô tự hành XQ được các chiến sĩ hải quân gọi là MẸC (mecxedec) của Trường Sa ra dắt vào đảo. Sóng to dội hắt nước lên mấy hàng ghế đầu. Ca nô của “thổ công” thuộc lòng đường xé nước mặc những ụ đá san hô mồ côi lờ mờ đáy nước.

Chiếc xuồng chở nặng người, phương tiện tác nghiệp, bị dắt mũi lượn về bắc đảo vào phía bãi cát. Sóng vẫn chồm lên quanh chiếc xuồng kiểu cũ to kềnh càng. Anh em lính mặc sắc phục hải quân choàng áo phao màu cam đứng thành hàng trên bờ. Lệnh phát ra: “Toàn đội chú ý thi hành nhiêm vụ”, lính đảo ào xuống nước. Lệnh lại phát ra tiếp:

- Lính đảo An Bang mang giúp các phương tiện nghe nhìn. Các bạn phóng viên nam, nhà văn nam tự lên đảo. Lính đảo An Bang bồng các phóng viên nữ, cán bộ nữ lên bờ.

Tiếng lính reo, át tiếng sóng. Những bước chân chạy đạp lên những con sóng lớn đổ xoài lên bãi cát vẫn cố giở trò hung hãn té ướt mọi người. Tôi đã đọc nhiều bài báo viết về cảnh sóng to tàu không cập đảo, lính ta phải lội ra đưa nữ văn công vào đảo, hôm nay tận mắt chứng kiến rồi tham gia vào cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở đảo An Bang chả thấy một lời phật ý nào chỉ thấy tiếng cười rờ rỡ, tiếng xuýt xoa tiếc rẻ, tiếng chị ơi!, em ơi!, anh ơi, cứ ập òa bên tai tôi, hòa vào tiếng sóng đổ.

Tôi quay lại bên cạnh thấy Lan Phương, cô phóng viên nhỏ nhắn, Đoàn trưởng Liên chi hội nhà báo Bộ Thông tin & Truyền thông dẫn hơn chục phóng viên ra Trường Sa vẫn chưa lên bờ, tôi thốt lên:

- Sao em chậm thế?
- Em không chậm đâu, em chụp ảnh và ghi chép chuyến đi.
- Em có tham gia cuộc vận động sáng tác của đoàn mình không?
- Có chứ anh, em gửi chỗ anh Khoa rồi.
- Thế thì chắc chắn em "ăn" giải lớn.

Cô cười hớn hở: Em thấy hạnh phúc quá anh ạ. Một chàng lính đảo sắc phục trắng không mang phao đã đến liền bên giơ hai tay đón. Trong chớp mắt, Lan Phương đã nằm gọn trong đôi tay dư sức mạnh của chàng lính biển đang băng sóng ào vào bờ cát.

Tôi theo bác sĩ Bùi Mạnh Hà ra sau hội trường trạm xá. Bác sĩ Hà quê ở huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An. Tôi gặp y sĩ Lê Nguyên Tú, quê huyện Nghi Lộc, Nghệ An, Nguyễn Đoàn Mây, quê huyện Anh Sơn, Nghệ An. Vũ Văn Minh, quê Hưng Lĩnh, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Họ vừa hoàn thành ca mổ u mỡ cho bệnh nhân - Trung úy Trần Hữu Hào.

Nói chuyện với Bác sĩ Nguyễn Mạnh Hà, tôi chợt nghĩ đến hậu phương trực tiếp của các đảo trong quần đảo Trường Sa. Như Khu 4, như Nghệ An với đảo An Bang sóng dữ.

Cột mốc nổi thiêng liêng

Trên đường từ Trường Sa trở về đất liền đoàn công tác trong đó có bảy nhà văn dừng lại thăm nhà giàn DK1/14, thả hoa viếng các liệt sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ tại khu nhà giàn DK1. Khu vực này có nhiều mỏ dầu của Việt Nam đã và đang khai thác. Trưa ngày 26/4/2012, rời đảo An Bang tàu chạy hướng Tây - Tây Bắc đi liên tục, suốt đêm. Sáu giờ sáng cập bãi ngầm Tư Chính.

Tôi lần giở từng trang trong sổ tay ghi chép trên đường từ đảo cuối An Bang trong quần đảo Trường Sa về khu các lô nhà giàn DK1.

Từ lúc vào đảo rồi rời An Bang tàu đã gặp sóng to, trên đường về bãi ngầm Tư Chính trong khu vực DK1 tàu cắt theo hướng Tây - Tây Bắc. Sóng đập vào mạn tàu kéo về phía sau trắng xóa, có những con sóng ngang đổ ụp vào mạn trước, nước bắn tóa lên boong phía đầu tàu trước mặt, lên kính buồng lái. Vào buồng lái tổ II đang tác nghiệp, lái chính Duyên ngồi thẳng, tay phải đặt trên vòng lái nhỏ, bàn tay trái thao tác các nút điện, hai mắt sáng nhìn dõi về phía trước, không hề lộ sự mệt mỏi vì thức đêm. Chính trị viên Đào Trọng Vĩnh đứng cạnh bàn hải đồ nói vui:
- Ngày cuối cùng chuyến đi, biển cũng phải nổi sóng để các anh các chị biết mùi sóng phải không anh?

Tôi cười:
- Đó là thử thách trước khi về đất liền

Tôi hỏi Vĩnh:
- Sóng này đến cấp năm chưa em?
- Chưa anh ạ, gió tới cấp năm có thể tới cấp sáu nhưng sóng thì chưa tới. Sóng lùi lại một cấp, gió cấp sáu thì sóng cấp năm.

Đúng 6 giờ, theo chỉ lệnh tàu tiến vào bãi Tư Chính. Sóng vẫn rất lớn, loa phát thanh trên tàu thông báo: “Theo lệnh của thủ trưởng đoàn vì sóng to gió lớn ca nô cặp chân giàn, rồi lên thang rất nguy hiểm. Chị em phụ nữ kể cả phóng viên ở lại tàu HQ 996”. Đài vừa ngừng, nữ sĩ Thúy Quỳnh khóc. Những chị em đứng ở thành tàu nhìn sang nhà giàn DK1/14 cũng khóc, chỉ có Diệp Anh, trưởng nhóm làm chương trình VTV1 được lên nhà giàn. Bùi Tuyết Mai đứng bên thành tàu, đọc tên những người xin dấu cộp vào giấy đi đường làm kỷ niệm rồi gửi cặp tập giấy gói trong bao ni-lông gập sang nhờ đóng dấu thật nhiều trang mang về Hà Nội.

Tôi một mình lặng bước theo khung cầu sắt dài đến hơn trăm mét sang ngôi nhà giàn DK1/14 bị sóng cơn bão năm 2003 xô nghiêng. Anh em nhà giàn kể lại ngọn sóng cao tới mười lăm mét, cao như sóng thần, xô lần đầu tung dàn tầng dưới. Đợt hai con sóng từ xa như trái núi lừ lừ ập đến như nó không di chuyển, chỉ đến lúc nó vặn nghéo cột, hất nghiêng khối nhà mới thấy sức mạnh khủng khiếp của nó.

Tôi mở cửa các căn phòng không người, mở cửa ra vườn rau nhìn thấy một con chim cánh màu xanh, đơn lẻ. Nó dạn người lượn ra lượn vào như có một sợi dây tình cảm nào đó giữ nó lại, chưa muốn bay đi. Chợt nó kêu lên một tiếng thảng thốt. Tôi gai người sững sờ nhìn những con sóng lớn màu xám lừ lừ tiến về nhà giàn cũ. Anh em nhóm lái tàu HQ 996 nói vui, sóng kiểu này đối với cánh nhà giàn mới chỉ “gãi ngứa” thôi, ăn thua gì.

Tôi nghĩ tới lúc các anh Nguyễn Hữu Quảng, người con của Hà Nội, Trung úy, Trạm phó chính trị nhà giàn DK1/3 cùng với Trạm trưởng Bùi Xuân Hồng chỉ huy anh em chống lại những đợt sóng cao 14, 15m của cơn bão số 10 năm 1990. Đợt đầu sóng đánh nhà giàn nghiêng 17 độ. Đến 2 giờ ngày 5/12/1990 toàn bộ khối nhà bị nuốt vào lòng biển. Dù ai cũng có phao cứu sinh và các tàu trực được lệnh trên đến cấp cứu, cuối cùng thì tìm thấy 5 người. Trung úy Nguyễn Hữu Quảng và Trung úy QNCN Trần Văn Là, quân y sĩ, hạ sĩ Hồ Văn Hiền, cơ điện đã hy sinh vì Tổ quốc, mãi mãi nằm lại với biển cả.

Một đợt sóng thúc vào chân cột nhà giàn bị nghiêng, tôi ôm cột nghĩ tới Đại úy Vũ Quang Trương, Trạm trưởng cùng với 8 cán bộ và QNCN nhà giàn DK1/6 với tinh thần còn người còn nhà giàn, đã kiên cường bám trụ, dự kiến những tình huống xấu nhất xảy ra, liên tục báo cáo với cấp trên. Sóng lớn phủ lên tràn kín cả sân công tác nhà giàn. Cùng với sức gió cấp 12 quật mạnh làm khối nhà rung chuyển dữ dội. Cả tập thể vẫn không hề run sợ, sát vào nhau chống lại sức tàn phá ghê gớm của bão và sóng. Đến 3 giờ ngày 14/12/1998, nhà giàn DK1/6 Phúc Nguyên đổ ụp xuống mặt biển đen ngòm. Cả 9 con người dũng cảm đã đi vào lòng biển...

Con chim xanh ở đâu lại bay đến lướt qua cây cột chống sóng, tôi như tỉnh lại, vùng ra, đi như chạy về phòng giữa tầng trên dùng làm hội trường. Sau mấy lần nhà giàn bị xô nghiêng, giằng đổ, bị cuốn trôi, Thủ tướng Chính phủ trực tiếp giao cho Bộ Giao thông vận tải, Công binh Hải quân và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam phối hợp xây dựng nhà giàn kiên cố, bảo đảm an toàn tới trên cấp sóng 12. Bố trí trong nhà giàn khoa học, khá đầy đủ tiện nghi phục vụ sinh hoạt của bộ đội.

Bản báo cáo của chỉ huy nhà giàn ngắn gọn, thẳng thắn, đầy trách nhiệm nhưng khiến tất cả những người có mặt phải lưu tâm, giọng chính trị viên căng ra:

- Bản thân tôi ở nhà giàn đã 18 năm, đã đổi đi năm nhà giàn… Các đồng chí khác trong ban chỉ huy nhà giàn DK1/14 cũng đã ở nhà giàn hơn 10 năm nhưng tất cả chúng tôi đều chung một ý nghĩ: Một người chúng tôi còn thì nhà giàn vẫn còn. Chúng tôi xác định mỗi một nhà giàn là một cột mốc nổi thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam trên Biển Đông...

Hết
Hải trình thương nhớ (Kỳ 1)
Hải trình thương nhớ (Kỳ 2)
Hải trình thương nhớ (Kỳ cuối))

Du lịch, GO! - Theo Đào Danh Thắng (QĐND), internet
Tôi nhìn vào đảo, bức tường khắc bài thơ “Nam quốc sơn hà” ở trên cao. Tôi hình dung như thấy vị Thái úy Lý Thường Kiệt đang đứng sừng sững, nhìn bao quát cả khu Đá Tây. Cả vùng biển lớn. Ngài như đang cùng con cháu quyết bảo vệ bằng được vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Sức sống mãnh liệt nơi đảo chìm

Hai mươi hai giờ đêm, đến giờ đi đảo Đá Tây, cuộc giao lưu, tiễn đưa tại hội trường đảo Trường Sa Lớn vẫn chưa kết thúc được. Đoàn Hội Nhà văn Việt Nam vẫn thiếu một người, đó là nhà thơ nữ Nguyễn Thúy Quỳnh. Là một nhà thơ nữ nên chị rất nhạy cảm, chị khóc khi gặp và khi chia tay cán bộ, chiến sĩ canh giữ đảo.

Khi đã có mệnh lệnh về tàu mà nữ thi sĩ Bùi Tuyết Mai vẫn cứ nán lại với các chiến sĩ như chẳng muốn rời. Tiếng còi tàu HQ 996 cất lên trầm vang như thúc giục, bấy giờ Tuyết Mai mới cuống cuồng chạy ra cầu cảng. Đứng trên thành tàu, đặt tay phải lên thái dương theo điều lệnh, chúng tôi tạm biệt cán bộ, chiến sĩ đảo Trường Sa Lớn...

Tàu đi xuyên trong đêm. Không ngủ được. Cảm xúc trong chúng tôi dâng tràn như đang say. Con tàu đi mải miết, lũ cá chuồn bay lách chách hai bên mạn tàu. Tới gần đảo Đá Tây, con tàu HQ 996 thả neo chờ sáng.

Mới tinh mơ, anh nuôi trên tàu đã lịch kịch kê bàn, đặt mâm cho bữa ăn sáng. Riêng Bùi Tuyết Mai đã thức gần hết đêm với bộ phận anh nuôi trên tàu. Chị nói nhỏ: “Các anh mới tuyển từ đơn vị lên, hơn chục người phục vụ đoàn ta gần hai trăm. Khu nhà bếp nóng đến 43 đến 45 độ. Các anh chỉ ngả lưng vài tiếng đồng hồ. Từ tối qua em tự nhận là nhân viên của bếp: Nhặt rau, rửa xoong nồi, đứng bếp, tàu gặp sóng, giữ nồi cho cơm chín”. Mồ hôi ướt đẫm áo. Đoàn trưởng Hải Đường khen: "Nữ nhà văn ngoan quá, chịu khó quá!". Rồi Thúy Quỳnh cũng xuống bếp. Chị em phóng viên nữ cũng kéo nhau cả vào bếp để đỡ việc anh nuôi...

Tôi ăn vội bát cơm sáng, khoác áo phao, vớ sổ, sách cẩm nang về Trường Sa, chiếc máy ảnh cũ Hữu Nhân cho mượn, nhảy tót xuống ca-nô. Vừa cập bờ đảo Đá Tây, Nguyễn Đắc Nhu giữ tôi lại để chụp ảnh bên cạnh bia chủ quyền. Mũ cứng, dép rọ quốc phòng, bộ quân phục màu xanh mượn của nhà thơ Nguyễn Anh Nông, Điện ảnh Quân đội. Đắc Như cầm máy ảnh trông oách quá. Vẫn còn đọng lại cái dáng của lính trận. Tôi theo cầu thang lên tầng hai thấy một nhóm phóng viên đang chĩa máy ảnh chuyên dụng và camera vào cây phong ba, cây bàng quả vuông trồng trong một cái chậu đầy đất phù sa. Anh Hải Đường nói với giọng xúc động: “Đây thực sự là những hình ảnh đáng quý. Sức sống mãnh liệt của cây lá Trường Sa, và của người Trường Sa. Người và cây biểu đạt sự trường tồn của Tổ quốc chúng ta”.

Tôi đang mải mê với ý nghĩ về Trường Sa và Tổ quốc thì có người gọi xuống xuồng sang điểm C. Điểm C có thể coi như đảo nổi nhỏ. Qua vườn rau muống, mùng tơi trồng trong nhiều chậu gỗ nhỏ, lên cầu thang, ra sân thượng rất đông phóng viên, cán bộ trong đoàn đang thắp hương. Trên bức tường lớn hiện ra bài “Thơ thần” của Thái úy Lý Thường Kiệt, bằng chữ Hán và chữ Việt quốc ngữ. Bài “Thơ thần” hướng ra phía hồ vành khăn san hô dài hơn mười lăm cây số, dòng thơ đọc lên lúc này thật linh thiêng:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Chúng tôi xuống ca-nô đi dọc cả chục cây số trong hồ vành khăn. Anh Trần Diễn, công nhân khu dịch vụ nghề cá đảo Đá Tây chỉ cho chúng tôi biết: "Khi bà con vào làm dịch vụ, trung tâm cấp nước ngọt miễn phí. Nước đá thì phải mua với giá được trên quy định. Xăng, dầu bán cho bà con với giá như trong đất liền". Anh Diễn có một con trai sinh năm 2010 tên là Trần Lê Đức Cường, vợ anh làm việc trong một trường tiểu học tận Nha Trang...

Ca-nô lượn quanh khu nuôi cá lồng. Lồng là một khung lưới rất lớn do Na Uy sản xuất. Theo ngôn ngữ dân chài quê tôi thì đấy là những lưới chài lớn có thể di chuyển, mở to ra hoặc thu nhỏ lại để bắt cá. Cả khu vực này nuôi cá Chẽm (cá Vược), một giống cá ngon. Anh em biết tin đã bắt sẵn tặng đoàn một bao tải cá, loại cá đã đến kỳ thu hoạch, một con nặng hơn 1kg. Tôi nhìn vào đảo, bức tường khắc bài thơ “Nam quốc sơn hà” ở trên cao. Tôi hình dung như thấy vị Thái úy Lý Thường Kiệt đang đứng sừng sững, nhìn bao quát cả khu Đá Tây. Cả vùng biển lớn. Ngài như đang cùng con cháu quyết bảo vệ bằng được vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Bảy giờ mười lăm phút, tàu của chúng tôi cập bờ đảo Tốc Tan C. Theo hải trình, thời gian tàu lưu lại đảo không dài, nên công việc các bộ phận triển khai nhanh. Đội văn công xung kích giao lưu, biểu diễn trên tầng hai. Tiếng đàn ghi-ta Đinh Thậm phập phùng. Vị Giám đốc Nhà hát Trưng Vương Đà Nẵng Đinh Thậm rất gần với lính, sẵn sàng phục vụ sẵn sàng ngay tại chỗ. Anh đệm ghi-ta cho cả nhóm hát bài Hành khúc ngày và đêm và Hát mãi khúc quân hành...

Tôi vòng ra phía sau ngôi nhà thì gặp anh Hải Đường đang nói chuyện với anh em cán bộ, chiến sĩ trên đảo. Hai mắt anh Hải Đường rớm lệ:

- Chúng tôi vừa được biết cháu trai duy nhất của anh Phương, đảo trưởng mất vì bệnh máu trắng mới được bảy ngày. Đây là mất mát lớn lao không biết lấy gì bù đắp được. Cả đoàn công tác xin được gửi chút quà nhỏ, nhờ anh Phương chuyển tới chị và gia đình tấm lòng của chúng tôi.

Đảo trưởng Phương ngồi thẳng người không động tay, không nói. Có lẽ anh sợ cất tiếng nói giọng sẽ nghẹn ngào và bật ra tiếng khóc.

Tôi gọi điện thoại cho Bùi Tuyết Mai, nói chị kiểm tra lại số tiền các đảng viên cơ quan theo chỉ đạo của Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, trích ra một ngày lương ủng hộ cán bộ, chiến sĩ Trường Sa. Đảng ủy khối cho phép đoàn giữ lại làm quà tặng khi đến các đảo. Mai nói nhỏ trong máy, quỹ đoàn mình cạn rồi anh ạ. Mình tặng Trường Sa Lớn, tặng Đá Tây, Trường Sa Đông, Phan Vinh. Nhưng em còn tiền mẹ gửi tặng các chiến sĩ. Em tính tặng gia đình anh Phương. Tuyết Mai cầm chiếc phong bì to có dòng chữ Hội Nhà văn Việt Nam đặt lên bàn. Rồi nhà thơ xứ Mường khéo léo gom tất cả các phần quà lại, đến bên cạnh đặt khẽ lên tay anh Phương.

Phương vẫn nhìn thẳng, vai hơi động đậy một chút, một chị phụ nữ lớn tuổi trong đoàn đi đến phía sau. Nét mặt chị lộ vẻ xúc động, cặp môi run run, hai bàn tay run run đặt nhẹ lên bờ vai anh, chị khóc.

Ba ngôi mộ ở Trường Sa Đông

Trường Sa Đông là hòn đảo nổi nằm ở phía Đông Bắc Trường Sa Lớn ở trong vòng cung phía ngoài. Trên đảo Trường Sa Đông có ba ngôi mộ liệt sĩ. Nằm phía trước, ngay đầu bến lên đảo. Ba ngôi mộ quét vôi trắng nằm cách đều trên cát. Các anh chị em đến trước đã đặt lên mộ vàng, hương, mấy quả táo, bưởi da xanh, xoài, bưởi Biên Hòa mang theo từ đất liền. Người lính hải quân trẻ măng đứng trong ụ súng phòng không đặt gần ba ngôi mộ giới thiệu: “Trong ba ngôi mộ có một liệt sĩ hy sinh ở đảo khác mới đưa về, còn hai liệt sĩ hy sinh tại đảo Trường Sa Đông”. Tôi quỳ xuống bên mộ nhìn cho rõ để ghi đầy đủ tên, tuổi, ngày tháng các anh hy sinh vào quyển sổ tay.

Tôi đứng lặng một mình bên cạnh ba ngôi mộ liệt sĩ. Liệt sĩ Nguyễn Văn Thi sinh năm 1979. Nghĩa là anh hy sinh khi đang ở độ tuổi sung mãn nhất của đời người. Ý nghĩ ấy khiến lòng tôi rưng rưng. Tôi cúi xuống sờ tay lên vụn đá san hô đã xây đắp thành mộ chí các anh. Bỗng có ai gọi tên, tôi giật mình quay lại thì thấy nhà thơ Tuyết Mai đã đến bên. Chúng tôi cùng lưu lại tấm hình bên mộ chí các anh như một sự ghi nhớ công ơn của những người đã không tiếc thân mình giữ biển...

Còn tiếp
Hải trình thương nhớ (Kỳ 1)
Hải trình thương nhớ (Kỳ 2)
Hải trình thương nhớ (Kỳ cuối)

Du lịch, GO! - Theo Đào Danh Thắng (QĐND), internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống