Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Saturday, 29 September 2012

Những năm gần đây, du khách phía Bắc lựa chọn làng Thổ Hà (xã Vân Hà, H.Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) làm điểm đến ngày càng tăng.

< Những chuyến đò đưa khách vào làng và những nếp nhà cổ kính ven sông là nét đặc trưng của Thổ Hà.

Làng cổ Thổ Hà - Dấu ấn văn hóa Bắc Bộ

Người ta muốn tới Thổ Hà, để sống trong không khí thanh bình của một làng quê còn đậm hồn vị Việt Nam, để “say” với rượu nếp, những món bánh ngon và cả những nụ cười tình cờ bắt gặp.

< Cổng làng Thổ Hà.

Nằm ven sông Cầu, ba mặt giáp sông, làng Thổ Hà khác với các làng khác của vùng quê Bắc bộ là không có ruộng. Người dân sống nghề “gạo chợ nước sông” - tức nghề thủ công, buôn bán nhỏ.

Trước kia, cùng Bát Tràng, Phù Lãng, đây là một trung tâm làm gốm sầm uất của Việt Nam có từ thế kỷ 14. Nổi tiếng với các sản phẩm chum, vại, chõ, tiểu sành với thứ men nâu bóng, gốm Thổ Hà theo chân những nhà buôn qua sông Cầu đến mọi miền đất nước.

Cùng những thăng trầm của lịch sử, đến Thổ Hà hôm nay, người ta chỉ bắt gặp dấu tích của một làng gốm cổ truyền ở những bức tường được dựng bằng những mảnh chum, vại, tiểu sành, kết dính bằng “lầm” - một thứ đất được pha trộn đặc biệt, sau bao năm vẫn vững chãi cùng thời gian.

< Chùa làng Thổ Hà.

Từ bến đò đặt chân đến đất làng Thổ Hà, chúng tôi gặp ngay ở chợ làng những màu sắc bắt mắt của đặc sản quê hương, nải chuối chín vàng, thúng khoai lang còn bám đất nâu...

Đi sâu vào trong làng, chúng tôi choáng ngợp bởi màu trắng lóa của những phên tre phơi bánh đa nem, bánh đa vừng. Trong cái nắng thu, nhà nhà phơi bánh.

< Khoảng 20 năm trở lại đây, nghề làm bánh đa nem và mỳ gạo trở thành nghề chính của người dân Thổ Hà. Có thể gặp những nong phơi bánh dọc đường, ngõ ở làng, thậm chí trong nhà.

Bánh đa nem nay được tráng bằng máy, mỏng dính, được làm thành những tấm hình chữ nhật dài. Người làng cho hay, sau khi phơi khô, từ tấm đa nem lớn này sẽ được cắt thành từng tấm tròn, hay vuông, rồi mới đóng gói...

< Kiến trúc các toà nhà trong làng bố trí theo hình xuơng cá. Trong những hẻm sâu của làng có nhiều ngôi nhà, tường xây bằng phụ phẩm gốm, trát bằng bùn sông, không hề sử dụng đến vôi vữa.

Thổ Hà nhiều ngõ, những ngõ hẹp sâu hun hút, nhà cửa san sát. Muốn vào nhà ai phải gọi cửa thật lớn vì ở Thổ Hà nhà nào cũng… nuôi chó. Người làng thấy khách qua, cười hiền, nói cứ đi lại thoải mái, chó không dữ.

Trước sân chùa, sau những phên tre phơi bánh, đám trẻ con đang nghịch nước, tranh nhau khoe với khách lạ bánh đa nhà mình là ngon nhất.

Thổ Hà đông trẻ con. Cả làng có đến mấy nhà trẻ, sân đền chùa trong làng cũng là nơi trông trẻ. Trẻ em quen với việc làng có khách, vô tư tạo dáng trước ống kính.

Một cháu nhỏ khi được hỏi về món ăn cháu đang ăn ngon lành trên tay, không ngần ngại mời chúng tôi “đặc sản”: bánh đa nem xào bột ớt, chấm nước mắm cay ngọt (hỏi thăm, chúng tôi mới hay người làng tận dụng những miếng vỡ của bánh đa nem, đem chiên trên dầu ăn, rồi trộn đều nước mắm cay, ăn nhâm nhi cũng rất ngon miệng).

Du khách nếu có nhu cầu được hỏi về xuất xứ của những chiếc bánh đa giòn rụm đang cầm trên tay, các cụ già trong làng không ngần ngại mời ngay khách ghé vào gia đình mình, nhìn tráng bánh, quạt bánh trên những lò than hồng rực, nếm thử chiếc bánh vừa quạt xong, giòn rụm.

< Hai bên đường làng san sát những phên tre phơi bánh tráng.

Giữa 1 giờ trưa, bước vào một gia đình phơi rất nhiều bánh đa vừng trước cửa, chúng tôi vẫn nhận được nụ cười niềm nở của một chủ nhà.

Tay không ngớt đảo những phên bánh cho đều nắng, chú Trịnh Đắc Hạnh, người tráng bánh đời thứ 5 của gia đình kể cho tôi cách làm để có được những chiếc bánh đa ngon, khách ăn một lần rồi nhớ mãi; gạo, lạc, vừng phối trộn như thế nào, phơi nắng sao để bánh không bị cong, vỡ...

Bánh đa vừng Thổ Hà, từng được dân địa phương nơi đây ví vui “Kì phùng địch thủ” với bánh đa làng Kế, cũng ở Bắc Giang. Chú Hạnh chìa những lát lạc tươi vừa xắt mỏng và cười nói: "Đó là bí quyết làm nên những chiếc bánh đa vừng Thổ Hà ăn một lần rồi nhớ mãi”.

Chiếc bánh đa ngon, phải tráng làm 2 lượt, phơi đến 3 nắng cho đủ độ giòn khi quạt. Cái khéo của người tráng bánh đa Thổ Hà là phải làm sao canh được thời tiết có nắng to hay không để rắc thêm vài cọng dừa nạo vào mặt bánh. Khi chiếc bánh khô, nướng trên than hồng, nghe thấy vị ngọt và béo của cùi dừa tan trên lửa...

Chia tay Thổ Hà khi nắng còn chưa tắt, chúng tôi lỉnh kỉnh hành lý với những túi quà bánh của Thổ Hà. Nào mỳ gạo, nào bánh đa nem, nào bánh đa quạt, nào chuối, nào rượu... Con đò ngang chậm rãi lùi xa.

Chúng tôi vẫn nhớ nụ cười của chị hàng nước khi mời thử món bánh đa nem trộn bột ớt, nhớ cái niềm nở của cô chú Hạnh hứa khi quay lại sẽ để dành hẳn cho những cái bánh đa vừng loại ngon, nhớ cả nụ cười đen nhánh của một cụ gặp ở đầu làng khi hỏi đường sang làng Vân gặp cụ Tom, mua cho được lít rượu nếp cái hoa vàng...

Có nhiều điều làm nên sức sống, linh hồn của một ngôi làng. Ở Thổ Hà, chúng tôi hiểu, đó là sự chân tình, mến khách của một làng quê ven một khúc sông Cầu êm ả...
-------

Thổ Hà là tên gọi một làng nghề thuộc xã Vân Hà huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang, cách Hà Nội khoảng 40km về phía Đông Bắc. Đó là một ngôi làng cổ với phong cảnh hữu tình, cây đa, bến nước, sân đình, những nếp nhà cổ san sát nằm sâu trong các ngõ hẻm cổ kính.

Thổ Hà ba mặt là sông như một hòn đảo, ra khỏi làng là phải đi đò. Làng có hai bến đò: bến Chùa ở trước cửa đình, bến đò dưới nằm ở xóm Ba. Trước kia đò do người chèo trông rất thơ mộng, nhưng ngày nay đều được gắn máy nên đò chở khách nhanh hơn. Dọc bờ sông của làng là thuyền bè của dân vạn chài sinh sống.

Khác với các làng ở đồng bằng Bắc Bộ dân Thổ Hà hoàn toàn không có ruộng, bao đời sống bằng gạo chợ nước sông, thu nhập từ nghề thủ công và buôn bán nhỏ. Trước 1960 làng nổi tiếng về nghề làm gốm, từ 1990 lại đây nổi tiếng về nghề làm bánh đa nem và mỳ gạo. Thổ Hà ngày nay cũng đang căng mình giữ gìn những giá trị truyền thống vốn có.

Du lịch, GO! - Theo Thanhnien và nhiều nguồn khác.
Rời thị xã Gia Nghĩa, đi ngược quốc lộ 14 về hướng thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) chừng 10km là tới xã Quảng Thành, rồi theo con dốc thoai thoải đất đỏ xuống thêm 300m về phía thung lũng, du khách có thể nghe tiếng dội ầm ầm của thác nước Ba Tầng.

< Thác Ba Tầng... trước kia.

Tính vị trí thì thác Ba Tầng thuộc xã Đăk Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông, cách thị trấn Gia Nghĩa khoảng 8km theo quốc lộ 14 ngược hướng về Buôn Ma Thuột.

Gọi là thác ba tầng bởi do cấu tạo của địa hình, dòng suối chảy đến đây đổ qua ba tầng đá nối tiếp nhau trước khi đến được lòng suối ở bên dưới. Ba tầng thác này nằm nối tiếp trong một chiều dài khoảng gần 40m.

Tầng thứ nhất không cao lắm, nước từ các tảng đá rơi xuống lòng thác từ độ cao hơn 1,5m. Cách tầng thác thứ nhất chừng 20m là tầng thác thứ hai. Ở tầng thác này, dòng nước suối xanh trong sau khi len lỏi giữa những tảng đá nằm kề nhau và từ độ cao khoảng 2m đã tràn xuống phía dưới tung bọt trắng xóa. Thác thứ ba là thác lớn nhất và là thác chính của cụm thác Ba Tầng. Ngọn thác chính này cao hơn 20m, ngày đêm ầm ào chảy giữa khung cảnh yên vắng của núi rừng và đổ tràn về hai bên bờ suối.

Ba Tầng thác không đều nhau, chính điều đó đã giữ được dáng vẻ tự nhiên và độc đáo cho thác. Bọt tung trắng xóa, sức gió và hơi nước từ thân dòng thác ào ra đánh bạt những khóm lau, sậy, lồ ô mọc chìa ra từ sườn đá bên cạnh.

Thác tạo thành dòng suối khá rộng, ven bờ có nhiều lùm cây cao tỏa bóng mát mà du khách có thể ngồi nghỉ ngơi ngắm cảnh dòng nước tuôn trào từ trên cao xuống trong âm vang của tiếng thác reo. Đứng dưới nhìn lên ta thấy hơi nước tỏa bay ra xung quanh như một lớp sương mù bao phủ ngọn thác mải miết reo vang muôn thuở giữa ngàn xanh.

Ngay từ xa, những âm vang của tiếng thác reo giữa núi rừng đã như một lời gọi mời lý thú, và khi đến gần thì trước mắt du khách là cả một vùng hơi nước mịt mù tựa như lớp sương dày bao phủ ngọn thác đã tạo cho thiên nhiên nơi đây vẻ huyễn hoặc hoang liêu. Với nhiều cây cao ven bờ tỏa bóng mát, lại có bãi đất rộng khá bằng phẳng, du khách có điều kiện ngắm nhìn dòng thác từ nhiều góc độ khác nhau và sẽ thú vị biết bao khi được cắm trại nghỉ dưỡng giữa thiên nhiên đại ngàn.

Quanh thác Ba Tầng có nhiều cây cổ thụ và có bãi đất rộng bằng phẳng, thoáng mát để cho du khách cắm trại, thư giãn khi đến thăm thắng cảnh này. Khách cũng có điều kiện ngắm nhìn dòng thác từ nhiều góc độ khác nhau và sẽ thú vị biết bao khi được cắm trại nghỉ dưỡng giữa thiên nhiên đại ngàn. Cùng với thác Diệu Thanh, thác Ba Tầng từng là điểm du lịch dã ngoại đầy thi vị của tỉnh Đắk Nông...

< Nhưng thác 3 Tầng trong mùa khô ngày nay...

Nhưng đó là chuyện mươi năm trước. Ngày nay, nhờ 'công lao trời bể' của thủy điện nên thác 3 tầng tại Đắk Nông chỉ còn lại vài nhúm nước le lói như thế này trong mùa khô. Chung quy: thủy điện xả nước thì 'Ba Tầng' mới được gọi là thác, còn thác Diệu Thanh thật đẹp ngày xưa cũng chả còn dấu vết gì.

Du lịch, GO! - Tổng hợp, ảnh internet
Hòn Bịp là tên gọi thôn Điệp Sơn, thuộc xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh. Hòn Bịp, nằm về hướng Đông Bắc của Thị trấn Vạn Giã, cách bờ khoảng 2km với hình dáng giống con nòng nọc đuôi hướng về Nam, trên đỉnh lởm chởm những dãy đá trắng. Dưới chân núi là làng Điệp Sơn thuộc xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, với dăm ba chục nóc nhà, dân chúng căn bản làm rẫy và đánh cá.

Người ta cho rằng vài trăm năm trước, đảo có quá nhiều chim bìm bịp, những tiếng chim bìm bịp điểm canh thâu đêm suốt sáng nên dân địa phương gọi là hòn Bịp - tên ấy tồn tại cho đến ngày nay.

Thôn đảo Điệp Sơn là một dãy ba đảo, nằm gọn trong vịnh Vân Phong, trong đó lớn nhất là Hòn Bịp với chiều dài khoảng 2.3km, hòn Giữa và cuối cùng là hòn Đuốc - Ba hòn có doi cát nối liền tự nhiên. Trên đảo có cây cối lúp xúp, xung quanh có nhiều bãi cát trắng. Trung tâm Hòn Bịp là núi Điệp Sơn có chiều cao khoảng 130m phủ đầy cây rừng.
Dân đánh cá trong vùng đôi khi ghé vào đó lấy nước uống vì có mấy khe đá có nước ngọt quanh năm, hoặc vào đó phơi lưới, hoặc nấu ăn chốc lát.

< Từ Hòn Bịp nhìn về Vạn Giã.

Theo tác giả Trần Bình Tây: Không rõ vào thời gian nào, có một số ít người, đàn ông có, đàn bà có đến đó lập nghiệp. Họ có nước da ngăm ngăm đên, tái tái giống người Raglai, hoặc người Chàm (Chăm). Đặc biệt là đôi mắt họ trắng xác, họ rất ít nói. Thoạt đầu thấy họ dễ sợ lắm. Hoàn toàn họ không giống người Việt (Kinh) mình chút nào cả. Về sau, người ta mới đoán họ là dân chài lưới từ Indonesia, từ Singapore, từ Mã Lai hay từ Thái Lan... bị bão lụt trôi tấp vào đó và sanh sôi nảy nở thành làng xóm. Thuở ấy, người dân ở đất liền Vạn Ninh thường gọi họ là "Dân Đàng Hạ".

Đầu thập niên 30, quan huyện địa phương gọi tất cả cư dân ở hải đảo này vào ghi danh lập "Bộ Đinh" của làng. Quan huyện hỏi đàn ông trước, đàn bà sau ... (hầu hết đều mù chữ). Tên thì có mà Họ thì không một ai biết họ gì cả! Cuối cùng quan huyện mới bảo: "Thôi thì đàn ông lấy họ Đinh, đàn bà lấy họ Trần."

< Gỡ hào trên bãi biển để mưu sinh.

Còn tác giả Nguyễn Đình Tư thì viết: tại vùng Đầm Môn Hạ, thuộc xã Vạn Thạnh, quận Vạn Ninh, nằm trên bán đảo Bản Sơn trong vịnh Vân Phong, có một giòng người thiểu số mà dân địa phương gọi là người Hạ để phân biệt với người Thượng như sự giải thích của nhiều người. Sự thật người Hạ tức là người Hạ Châu một giống người từ bán đảo Mã Lai vượt biển tới đây làm nghề đánh cá rồi lưu cư ở đây cho tới bây giờ.

< Giải trí của thanh niên trên đảo.

Ngày nay họ đã Việt hóa hoàn toàn, duy chỉ còn 2 đặc điểm: một là không khiêng gánh mà đội trên đầu, hai là hễ sinh con trai thì đặt họ Đinh, sinh con gái thì đặt họ Trần.
Làng Điệp Sơn bây giờ có chừng vài trăm nhân khẩu, mọi sinh hoạt đều giống như người trong đất liền. Nhiều người ở Vạn Ninh đến khai thác Điệp Sơn để nuôi tôm hùm, tôm sếu (một loại tôm hùm ngắn càng).


< Bé trông em trên thôn đảo Hòn Điệp.

Để ra Hòn Bịp - Điệp Sơn, bạn có thể đi ghe từ thị trấn Vạn Giã. Ghe chạy về hướng Đông - Bắc tầm 30 phút là đến cầu đò của đảo. Điệp Sơn sẽ hiện ra trước mắt với những rặng dừa cao lớn với hàng trăm  năm tuổi đã và đang chứng kiến bao sự đổi thay của trời đất. Lẩn khuất dưới những bóng dừa là các ngôi nhà nhỏ nằm nép mình mặc cho thời gian trôi đi với bao sự đổi thay chậm rãi trong đời sống của người dân Điệp Sơn.

Năm 2005, thôn Điệp Sơn có 63 hộ với 312 nhân khẩu. Thôn chỉ có trường cấp 1, có chợ, điện chỉ có vài giờ trong ngày vì chạy máy phát.

Nuôi trồng thủy sản là một lợi thế của vùng biển đảo này. Nếu điều kiện giao thông với đất liền tốt hơn thì tiềm năng du lịch cũng có thể phát triển.

Du lịch, GO! tổng hợp, ảnh PhotoTamtay và nhiều nguồn khác.

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống