Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Tuesday, 8 May 2012

Nói đến thành phố Hưng Yên, nhiều người nhớ ngay đến Phố Hiến - một thương cảng nổi tiếng nằm trải dài dọc theo tả ngạn sông Hồng vào khoảng thế kỷ XVII - XVIII.

Vào thời còn phồn thịnh, Phố Hiến không chỉ là trung tâm chính trị, kinh tế thứ hai sau kinh đô Thăng Long mà còn là nơi gặp gỡ của nhiều nền văn hóa. Đến nay, quá khứ sôi động ấy vẫn còn thể hiện qua nhiều công trình kiến trúc như đền, chùa, nhà thờ, văn miếu...

Du khách khi đi trên cầu Yên Lệnh thuộc quốc lộ 38, nối Hà Nam với Hưng Yên sẽ nhìn thấy văn miếu Xích Đằng thấp thoáng sau hai cây gạo mấy trăm năm tuổi được trồng trước cổng. Trên đường dẫn vào tam quan còn có tượng hai con nghê đá lớn được tạc từ thế kỷ XVIII.

Tam quan (hay còn gọi là cổng Nghi môn) của văn miếu Xích Đằng là một trong những công trình còn giữ được nét kiến trúc độc đáo trong các văn miếu còn lại ở Việt Nam. Được dựng theo lối kiến trúc chồng diêm, hai tầng tám mái có lầu gác. Hai bên Tam quan có hai bục loa, dùng để xướng danh sĩ tử và thông báo những quy định trong các kỳ thi hương.

Tọa lạc ngay trung tâm thành phố là nhà thờ Phố Hiến do người Bồ Đào Nha xây dựng. Dù đã gần 400 năm tuổi, giáo đường này vẫn giữ được dáng dấp uy nghi và đường nét hoa văn theo lối kiến trúc Gothic lộng lẫy. Cách đó không xa là đền Mẫu - một trong những danh lam thắng cảnh đẹp nhất Hưng Yên.

Bên phải đền là hồ Bán Nguyệt phong cảnh hữu tình, mặt nước trong xanh phẳng lặng, bốn bề cây xanh râm mát. Phía trước đền là Bến Đá sông Hồng - nơi thuyền cập bến buôn bán tại Phố Hiến xưa. Giữa sân đền có cây đại thụ mà theo truyền thuyết thì đã sống gần bảy trăm năm.

Cây được kết hợp bởi cây đa, cây bàng và cây sanh quấn quýt lấy nhau. Cây đa có hai rễ phụ tỏa nhánh bao trùm cả sân đền. Thân chính cây đa đã mục ruỗng, du khách có thể chui vào trong thân cây mà trèo lên cành đa cao 2 mét bên trên.

Cổ kính không kém là chùa Chuông nằm tại thôn Nhân Dục phường Hiến Nam được xây dựng từ thế kỷ XVII. Truyền thuyết kể rằng vào một năm lụt lớn, có quả chuông vàng đặt trên bè dạt vào bãi sông. Nhiều nơi đua nhau kéo chuông về nhưng chỉ có người dân thôn Nhân Dục là kéo được. Dân làng cho là Trời Phật giúp đỡ liền dựng chùa, xây lầu treo chuông. Chùa mang tên Kim Chung tự, tức chùa Chuông từ đó.

Du khách tới vãn cảnh chùa Chuông đều có ấn tượng trước quy mô bề thế và khuôn viên hữu tình. Từ tam quan bước vào là gặp ngay cây cầu đá xanh dẫn lối qua ao sung. Sân chùa phủ bóng cây mát rượi, tiếng gió lao xao vòm lá, tiếng chim líu ríu trên mái ngói thâm nghiêm tạo thành một chuỗi âm thanh êm ái thoát tục...

Dù giấc mơ phục hồi lại Phố Hiến khó thành hiện thực, nơi đây vẫn xứng đáng để những ai muốn nhìn lại thăng trầm của lịch sử và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của phồn hoa xưa ghé thăm một lần. Nếu đến đúng mùa nhãn lồng, được nếm thử vị thơm ngọt của loại trái cây làm nên niềm tự hào cho đất Hưng Yên, hẳn du khách sẽ có thêm điều để nhớ mãi về vùng đất này.

Du lịch, GO! - DNSGCT, internet
Nhiều người Việt gần đây mỗi khi đến một kỳ nghỉ hay những lúc rảnh thường tranh thủ “xuất ngoại” khám phá những vùng đất lạ trên thế giới. 

Còn tôi, lại thích khám phá những miền đất thú vị của Tổ quốc mình. Và quyết tâm đặt chân tới mũi Sa Vĩ - điểm khởi đầu của dải đất hình chữ S - là một nơi, một lần như thế.

Thị xã Móng Cái, nơi có cửa khẩu giao thương với Trung Quốc, nơi người Việt và người Hoa có thể đi lại qua cây cầu Bắc Luân để bán mua tấp nập hàng ngày, nơi dòng sông Ka Long rộn rã những chuyến tàu chở hàng hóa ngược xuôi, những vải vóc quần áo, giày dép đồ gia dụng, và hơn cả là hải sản đậm đà mùi biển cả, nơi tiếng nói dường như cũng nhuốm màu sóng gió để trở nên nặng hơn, lạ hơn với nhiều vùng đất miền Bắc khác.

Ở đây, nhà cửa san sát, hàng hóa san sát, ai cũng muốn đến để mua sắm, để xem xét. Nhưng, chỉ ra khỏi thị xã vài cây số thôi, tự dưng thấy trời cứ như rộng ra, đất đai bằng phẳng đi. Cứ thế, hơn chục cây số đường trải nhựa thẳng tắp, hai bên là bãi sú mênh mông lộ hẳn ra hoặc ngâm chìm trong nước tùy theo độ lên xuống của thủy triều.

Rẽ trái là đường đến Trà Cổ, một ngôi làng biển cổ kính, hầu như nằm dạt về một bên. Bên kia là rừng dương xõa tóc, là bãi biển, là đường bờ biển bao quanh vùng biên cương của Tổ quốc mình. Muốn đến được mũi Sa Vĩ, phải qua Trà Cổ, đó cũng là sự trải nghiệm đầy thú vị.

Thật lạ, cách Móng Cái chừng mười bảy cây số, Trà Cổ dường như đứng ngoài sự náo nhiệt bán mua ấy, hay nói đúng hơn, nơi đây vẫn giữ được vẻ yên bình hiếm có của riêng mình như từ bao đời nay vẫn thế. Những ngôi nhà nhỏ, thấp với gạch ngói rêu phong đặc trưng của nơi hứng chịu nhiều bão tố. Con đường cũng nhỏ, người đi lại thưa thớt và chậm rãi chứ không vội vã ồn ào. Làng chạy dọc theo đường đi nên có nhiều ngõ nhỏ, vì thế, rẽ vào mỗi ngõ là gặp những điều bất ngờ. Có những ngôi nhà cũ, thẫm rêu, trên cổng còn ghi rõ năm xây dựng: 1926. Có khi, đó là một loài cây chẳng mấy khi gặp ở nơi khác.

Chợt gặp một cái biển chỉ dẫn lối rẽ vào Đình Trà Cổ - di tích lịch sử đã được xếp hạng. Chính nơi đây đã khởi nguồn cảm hứng cho nhạc sĩ Nguyễn Cường viết nên ca khúc “Mái đình làng biển” nổi tiếng. Đình vắng, mấy cậu bé say mê với trò chơi tự chế từ chiếc lốp xe máy hỏng bên gốc cây bàng, cây phượng. Ẩn sau những mái đao cong vút là biết bao câu chuyện về lịch sử, về chuyện đời, chuyện người.

Đình Trà Cổ được xây dựng vào năm Quang Thuận thứ 2 của đời Hậu Lê 1462, thờ sáu vị Thành hoàng đã có công lập nên làng Trà Cổ. Điều đặc biệt là, dù được xây dựng tại vùng biên giới giáp với Trung Quốc nhưng đình Trà Cổ hoàn toàn mang phong cách kiến trúc Việt Nam. Mặt bằng đình theo kiểu chữ Đinh, tiền đường gồm 5 gian, 2 trái, hậu cung có 3 gian. Mái đình hơi võng, lợp ngói mũi giống như những ngôi đình của các làng quê đồng bằng sông Hồng. Đình gồm 48 cột lim đặt trên tảng kê bằng đá xanh, cột cái cao 4,65 mét, chu vi cột 1,63 mét. Đình còn có 2 cột bằng đá nguyên khối cao hơn 2 mét.

Các cột được giằng đan bởi những xà ngang dọc, ở các đầu xà gồ đều chạm đầu rồng. Hai đầu hồi là Hai bức hoành phi sơn son thiếp vàng đối diện nhau: “Nam Sơn Tịnh Thọ (Nước nam bền vững); Địa cửu thiên trường (Đất vững trời dài)”. Trong đình có nhiều bức cửa võng trạm trổ tinh xảo được sơn son thếp vàng. Những hình ảnh cách điệu về Tứ Linh, về thần tiên, về con người... Trong hậu cung có bức trạm bông sen vàng, ở giữa giải hoa văn ô vuông. Trước hậu cung có bức y môn bằng lụa điều thêu hình rồng phượng, đôi chim hạc cao 1,5 mét.

Đầu Đao của đình uốn cong vươn lên như những đầu đao của những ngôi đình ở đồng bằng bác bộ. Đẩu Bẩy được làm bằng những thân lim lớn, trạm trổ hình đấu rồng tinh xảo, rất đặc biệt là các bức trạm trổ không hề giống nhau. Sàn đình làm bằng gỗ, cao 0,4 mét, bưng kín bằng những bức trạm trổ. Nhiều kết cấu mái đều được cách điệu và trạm trổ tinh xảo. Chính vì thế, đình mang đậm chất văn hóa của người Việt cổ xưa, không hề lai căng pha tạp đồng hóa với kiến trúc Trung Hoa, điều này càng khẳng định rằng cha ông ta ngày xưa đã rất coi trọng bản sắc văn hóa dân tộc.

Bãi cát trắng sạch, nước biển trong xanh vì thế biển Trà Cổ cũng thu hút nhiều người đến đây vui chơi. Nhưng với chúng tôi, đến Trà Cổ không phải vì bãi biển đẹp, mà bởi nơi đây có điểm đầu tiên của nét bút tạo hóa vạch nên bản đồ chữ S Việt Nam. Chúng tôi muốn uống một hớp nước ở điểm đầu này, muốn bước chân mình lạo xạo trong bùn cát, muốn hưởng trọn cái nắng, gió của biển trời Sa Vĩ. Những bông sim, bông mua hình như cũng tím hơn trong chiều biên giới. Nơi rừng dương chắn sóng rì rào, nơi bãi sú kiên gan ngâm mình giữ đất, nơi biển trời mênh mông cho ta thấm thía hơn bao giờ hết cái từ “Đất Nước” đã từ lâu quen thuộc với mình. Đó là cảm giác đầu tiên của chúng tôi khi đến với mũi Sa Vĩ.

“Từ Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước”, chúng tôi đã gặp nơi đây không chỉ là một tấm bảng khẳng định chủ quyền, không chỉ là một tấm biển vành đai biên giới, không chỉ là một rừng dương vi vút hát trong chiều muộn, mà thấy cả một nỗi niềm bâng khuâng, tự hào về Tổ quốc trào dâng trong tâm hồn.

“Chiều biên giới em ơi, có nơi nào xanh hơn”, câu hát ấy bất giác ngân lên trong lòng tôi khi nhìn ra xa xa muôn trùng sóng nước, nơi bóng chiều đã bắt đầu phủ lên biển cả bao la. Đằng sau là tiếng cười, tiếng ríu rít của những bạn trẻ, những đôi trai gái, cả những gia đình nhiều thế hệ, mang theo tiếng nói của vùng miền mình đến đây chụp ảnh, để lưu giữ một kỉ niệm, một khoảnh khắc, một cảm xúc và một trải nghiệm của cuộc đời mình. Còn phía trước kia là muôn trùng xa xôi, diệu vợi.

Chẳng biết, đất dưới chân mình đứng đây, mấy nghìn năm trước, cha ông ta ai là người đứng đầu tiên; chẳng biết, mấy nghìn năm qua, bao nhiêu dấu chân thế hệ đã đặt lên để mũi mãi hiên ngang luôn hướng ra phía biển...

Nhúm một nhúm cát, nhặt lên một hòn đá cuội, nắm chặt trong tay mình để thấy cát và đá cũng ấm tình Tổ quốc. Tôi mang hai vật ấy cất vào ba lô mang về đặt lên bàn làm việc. Tôi tin chắc rằng, mỗi khi nhìn thấy cát và đá tôi lại nhớ về Sa Vĩ, nhớ về Trà Cổ, về nơi đã lưu giữ một phần tâm hồn mình, để lại nhen nhóm và thu xếp thỏa mãn khát vọng lên đường khám phá những mũi Cà Mau, cột cờ Lũng Cú, những điểm cực khác của Tổ quốc mình và trân quý hơn những vẻ đẹp muôn hình muôn sắc khắp dải đất hình chữ S thân yêu.

Du lịch, GO! - Theo Datviet, internet

Monday, 7 May 2012

Sáng 6 - 5 - 2012, tượng đài Trần Hưng Đạo đã được khánh thành tại đảo Song Tử Tây (quần đảo Trường Sa, Việt Nam); được tạc bằng đá, cao sừng sững 11m, dựng ở sườn phía đông đảo, hướng nhìn ra biển phía đông nam.

Công trình khởi công từ tháng 6-2011 trong điều kiện thời tiết mưa bão khắc nghiệt; việc vận chuyển vật liệu và thi công rất nhiều khó khăn.

Tượng đài được tạc  theo mẫu ở quảng trường Mùng Ba Tháng Hai ở TP Nam Định, với kinh phí 6,5 tỉ đồng; được thực hiện từ đá nguyên khối vùng Thanh Hóa; do chính quyền và nhân dân tỉnh Nam Định đóng góp, Công ty Điện tử tin học và hóa chất (Bộ Quốc phòng) thi công, phần tượng do Doanh nghiệp Xây dựng mỹ thuật Song Thảo (Ninh Bình) thực hiện.

Thượng tá Vũ Văn Cường, chỉ huy trưởng kiêm chủ tịch UBND xã đảo Song Tử Tây (huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa) cho biết tham dự lễ có đoàn đại biểu Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nam Định, do phó chủ tịch UBND tỉnh Nam Định Đoàn Hồng Phong dẫn đầu; đại diện Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Nam Định, do thiếu tướng Trần Quang Tiến, chỉ huy trưởng dẫn đầu; đại diện quân chủng hải quân nhân dân Việt Nam do đại tá Nguyễn Đức Nho, phó tham mưu trưởng quân chủng dẫn đầu; cùng đông đảo quân và dân huyện đảo Trường Sa.

Phát biểu tại lễ khánh thành công trình, đại tá Nguyễn Đức Nho, phó tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân, nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt của việc đặt tượng đài Trần Hưng Đạo trên đảo Song Tử Tây nói riêng và quần đảo Trường Sa nói chung.

Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn là một đại danh tướng; anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, với ý chí quật cường, trí thông minh và tài thao lược khi cầm quân – nhất là thủy quân (ngày nay là hải quân), là biểu trưng khí phách của dân tộc Việt Nam; góp công lớn cùng quân và dân nhà Trần lập kỳ tích oanh liệt ba lần đại phá đại đế quốc Nguyên Mông hung bạo thế kỷ 13.

Ông cũng được coi là nhà tư tưởng quân sự, khởi xướng chủ trương quốc phòng toàn dân (“toàn dân vi binh”) và tổ chức thực hiện chiến tranh nhân dân bách chiến bách thắng.

Với tài đức văn võ song toàn chói lọi (tác giả Binh thư yếu lược, Hịch tướng sĩ…), từ nhiều thế kỷ nay, Trần Hưng Đạo - danh tướng Việt Nam duy nhất - được nhân dân ta suy tôn bậc thánh nhân (Đức Thánh Trần), lập đền thờ tôn nghiêm trang trọng khắp ba miền.

Dựng tượng ông trên quần đảo Trường Sa sẽ tiếp thêm ý chí và sức mạnh dân tộc, khí phách và hào khí Việt Nam cho quân và dân nơi quần đảo tiền tiêu, cũng là để nhắn gửi tới cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đoàn kết một lòng, vượt qua khó khăn, gian khổ để bảo vệ vững chắc vùng biển đảo của Tổ Quốc.

Du lịch, GO! - Theo TTO và nhiều nguồn ảnh khác

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống