Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Saturday, 21 April 2012

Bài 3: Cái Đôi Vàm

Cửa biển Cái Đôi Vàm - nơi tọa lạc của thị trấn biển trẻ nhất tỉnh Cà Mau - thị trấn Cái Đôi Vàm - trung tâm phát triển của huyện Phú Tân. Nằm trên tuyến đê biển Tây, với tiềm năng riêng của mình, cửa biển Cái Đôi Vàm đã và đang đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế biển tỉnh nhà.

Cái Đôi Vàm vốn là cửa biển tự nhiên, được thiên nhiên ưu đãi với nhiều loại hải sản phong phú. Năm 1945, nhiều ngư dân đã về đây sinh sống, khai thác nguồn lợi thủy sản. “Đất lành chim đậu”, nhờ nguồn lợi kinh tế biển, cửa Cái Đôi Vàm thu hút ngày càng nhiều dân thập phương đến làm ăn sinh sống. 49 năm sau, kể từ ngày những ngư dân đầu tiên đến đây khai phá, ngày 20.9.1994, thị trấn Cái Đôi Vàm thành lập, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của một vùng cửa biển.

< Ghe câu kiều của ông Huỳnh Thanh Khánh chuẩn bị ra khơi.

Ông Nguyễn Hồng Hài - người sống nhiều năm ở cửa biển, kể lại: Trước đây cửa biển này rất nhỏ, ghe khoảng 15 tấn không thể xoay trở được. Để thuận tiện cho hoạt động khai thác hải sản, từ sau năm 1968, cửa Cái Đôi Vàm mới được tiến hành nạo vét. Ngày nay, ở Cái Đôi Vàm có trên 130 phương tiện khai thác thủy sản lớn, nhỏ. Trong đó, tàu công suất từ 90CV trở lên là 57 chiếc; từ 45CV - 90CV là 23 chiếc; dưới 45CV là 51 chiếc.

Như bao nhiêu cửa biển khác, khai thác, nuôi trồng thuỷ sản vẫn là động lực chính của vùng cửa biển này. Nhờ ít sóng gió nên Cái Đôi Vàm thu hút nhiều phương tiện từ lớn đến nhỏ ở các khu vực lân cận: Bến Tre, Gạch Rốc, Rạch Tàu... đến khai thác.

< Các ghe lưới cá - nghề đang được khuyến khích phát triển ở cửa Cái Đôi Vàm.

Phương tiện và các loại hình khai thác, đánh bắt ở đây cũng khá đa dạng. Ngoài các nghề truyền thống như đáy hàng khơi, câu cào mé... hiện nay, các nghề ghe lưới và câu nổi đang được khuyến khích phát triển. Đây cũng là cửa biển tập trung nhiều dân nghèo tha hương, chuyên đánh bắt gần bờ bằng các phương tiện nhỏ như te, đáy sông, lưới ghẹ...

< Miếu Bà Thủy - miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng từ năm 1978, nét tâm linh của người dân xứ biển.

Ngoài ra, ở Cái Đôi Vàm cũng hình thành nhiều làng nghề biển nổi tiếng. Mùa khô khoai gần như đã trở thành đặc trưng của vùng biển Cái Đôi Vàm với những câu hát “hò khoan” rặt màu sắc Nam bộ. Bên cạnh đó, có nhiều nghề phổ biến như: mắm ruốc, khô ruốc, phơi cá phân... Bãi lắng ở cửa Cái Đôi Vàm mỗi năm được phù sa bồi lắng từ 40 - 50m, là khu vực giữ đất khoanh nuôi của rừng phòng hộ đê biển Tây.

< Các vựa thu mua cá - tạo việc làm cho nhiều lao động ở cửa biển.

Tình hình chung của Cái Đôi Vàm hiện nay là cửa biển nhỏ, bến bãi cạn, khó khăn cho việc tàu thuyền neo đậu. Đồng thời, do ảnh hưởng mưa bão và xăng dầu tăng giá đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống bà con ngư dân. Ông Trần Văn Kỉnh - Chủ tịch UBND thị trấn Cái Đôi Vàm, cho biết: Để đảm bảo cho việc khai thác thủy sản và phát triển kinh tế vùng cửa biển Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân đã quy hoạch xây dựng khu tiểu thủ công nghiệp, diện tích 3,4 ha ở bãi lắng Khóm 5, thị trấn Cái Đôi Vàm, nhằm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá: các vựa mua bán cá, khô; buôn bán các loại ngư cụ...; xây dựng hãng nước đá...

Đồng thời, Sở Thủy sản tỉnh Cà Mau cũng đang trong giai đoạn lập hồ sơ thiết kế, nạo vét từ cửa Cái Đôi Vàm tới xã Phú Thuận, nối đầu kinh xáng Thọ Mai. Tin rằng, với những tiềm năng kinh tế biển cùng với sự đầu tư đúng mức, trong tương lai, Cái Đôi Vàm sẽ trở thành một cửa biển phát triển năng động và trù phú.

Bài 4: Cửa biển Hương Mai - đầu tư cho phát triển

< Cống Hương Mai trên đê biển Tây ngăn mặn phục vụ sản xuất.

U Minh có hai xã giáp biển là Khánh Hội và Khánh Tiến, nếu cửa biển Khánh Hội được xem là trung tâm kinh tế biển của huyện thì các cửa biển nhỏ như Hương Mai, Tiểu Dừa, Lung Ranh... cũng đang được quan tâm đầu tư để phát triển kinh tế biển ở U Minh. Trong số các cửa biển ở Khánh Tiến thì Hương Mai là cửa có nhiều tiềm năng, đang được đầu tư cơ sở hạ tầng để phục vụ chiến lược kinh tế biển ở Cà Mau.

Cửa Hương Mai nằm trên tuyến đê biển Tây (Khánh Tiến) dài 172km, nối xã Khánh Hội với Vân Khánh Tây (An Minh, Kiên Giang). Hương Mai vốn chỉ là cái vàm nhỏ, năm 1993, nơi đây được nhà nước đầu tư xây dụng cống ngăn mặn, phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhưng hiện tại cống không còn vận hành (do bửng bị hư). Hằng năm do phù sa bồi lắng, nên cửa biển cạn và hẹp dần, không có chỗ cho tàu thuyền trú ngụ, neo đậu làm hạn chế khả năng khai thác ở cửa Hương Mai.

< Thành quả sau chuyến đi biển của ngư dân Hương Mai.

Người dân ở Khánh Tiến nói chung và vùng cửa biển nói riêng chủ yếu làm nông nghiệp, nghề biển chưa là động lực chính để phát triển kinh tế. Vì thế, ở cửa Hương Mai tình hình khai thác nhỏ lẻ, chủ yếu là phương tiện đánh bắt gần bờ, như câu mực và ghe lưới cá... việc trao đổi mua bán có tính chất địa phương. Do không có bến bãi lớn, các ghe lưới thường neo đậu trong các lạch nhỏ của rừng phòng hộ; ven đê biển có nhiều chòi nhỏ để ngư dân lên cá tôm. Hiện nay, trên và ven chân đê quốc phòng khu vực cửa biển Hương Mai có khoảng 100 hộ dân tự phát đến sinh sống, khai thác và làm các dịch vụ nghề biển.

Để tiếp tục thúc đẩy kinh tế khu vực cửa biển, huyện U Minh đã quy hoạch xây dựng cụm dân cư ven biển (diện tích trên 111 ngàn m2), nhằm phát triển giao lưu mua bán và đảm bảo an toàn cho người dân trong mùa mưa bão. Ngoài ra, huyện còn lập đề án xây dựng cống mới và mở rộng cửa Hương Mai để thu hút tàu thuyền đến khai thác, neo đậu. Ông Huỳnh Công Hiệu, Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế xã Khánh Tiến, cho biết: “Do cửa biển nhỏ, lượng tàu thuyền khai thác ít, nên tiềm năng thủy sản còn khá lớn, mở rộng cửa biển Hương Mai sẽ tạo hướng đi mới cho người dân nơi đây”.

< Phụ nữ ở cửa biển Hương Mai với nghề vá lưới.

Đồng thời với việc cải tạo, nâng cấp lại cửa biển là dự án xây dựng đường ô tô đến trung tâm xã Khánh Tiến. Cửa biển thông thoáng, giao thông thuận lợi sẽ thúc đẩy các hoạt động giao thương mua bán và phát triển các dịch vụ nghề biển. Tuy nhiên, làm kinh tế biển - với giá xăng dầu tăng cao và giá thủy sản xuống thấp như hiện tại, cũng chưa phải là “nghề độc” với nhiều người. Thiết nghĩ, để phát triển kinh tế ở cửa biển Hương Mai nói riêng và các cửa biển nói chung, cần có cơ chế thích hợp để thu hút và vực dậy tiềm năng biển của địa phương.

Còn tiếp

A1 - Những cửa biển ở Cà Mau
A2 - Những cửa biển ở Cà Mau
A3 - Những cửa biển ở Cà Mau
A4 - Những cửa biển ở Cà Mau

Du lịch, GO! - Theo báo Ảnh Đất Mũi
Bài 1: Cửa biển Rạch Gốc - Một địa danh đi vào lịch sử

Nghị quyết 09 - NQ/TW ngày 9.2.2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” đã nhấn mạnh: “Thế kỷ XXI được thế giới xem là “thế kỷ của đại dương”. Các quốc gia có biển đều rất quan tâm đến biển và coi trọng việc xây dựng chiến lược biển. Khu vực biển Đông, trong đó có vùng biển Việt Nam, có vị trí địa kinh tế và địa chính trị rất quan trọng...  với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, ngày nay biển càng có vai trò to lớn hơn đối với sự nghiệp phát triển đất nước”.

Có thể khẳng định, tiềm năng tài nguyên biển và vùng ven biển của nước ta nói chung và Cà Mau nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Vùng biển Cà Mau có trữ lượng dầu khí rất lớn, cùng các loại khoáng sản có giá trị.

< Ven cửa biển Sông Đốc.

Bên cạnh đó là nguồn lợi hải sản với chủng loại rất phong phú, đa dạng, dọc bờ biển có nhiều địa điểm có thể xây dựng cảng như Sông Đốc, Năm Căn, Hòn Khoai... trong đó có nhiều nơi có thể xây dựng cảng trung chuyển quốc tế; có đảo có tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp. Ngoài ra, biển Cà Mau có nhiều bãi biển lớn, nhỏ nong thoải, không khí trong lành với cảnh quan đẹp...

Bài 1: CỬA BIỂN RẠCH GỐC - MỘT ĐỊA DANH ĐI VÀO LỊCH SỬ

< Đánh bắt hải sản cửa biển Rạch Gốc.

Về xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, chúng tôi tìm đến những vị lão làng để được nghe kể về một cửa biển. Rạch Gốc - cửa biển thiên nhiên, nơi gắn liền với những chiến tích hào hùng của quân và dân Cà Mau qua hai cuộc trường kỳ kháng chiến đã và đang chuyển mình đi lên bằng chính tiềm năng sẵn có.
Cửa biển Rạch Gốc, một địa danh đi vào lịch sử với bao chiến công của các nghĩa sĩ thời chống Pháp và Mỹ...


< Nghề lưới ở Rạch Gốc.

Đây là đầu mối giao thông quan trọng, thuận lợi để Phan Ngọc Hiển cùng các đồng chí ra vào chiến đấu và làm nên chứng tích lừng lẫy trên đảo Hòn Khoai năm 1940. Đồng thời, cửa biển Rạch Gốc còn là địa điểm tiếp nhận vũ khí từ hậu phương miền Bắc chuyển vào trên những chuyến tàu không số và cũng từ đây, có những con người đã làm nên lịch sử như Anh hùng Phan Ngọc Hiển, Anh hùng Bông Văn Dĩa và Nguyễn Văn Cự...

Ngày nay, cửa biển Rạch Gốc lại trở thành trung tâm phát triển kinh tế của xã Tân Ân nói riêng và huyện Ngọc Hiển nói chung. Hiện nay, nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản là động lực chính để phát triển kinh tế của người dân vùng cửa biển.

Ngoài các nghề truyền thống như đóng đáy hàng khơi, câu cào mé... cửa biển Rạch Gốc đang được xem là “cửa khẩu” về con tôm sú bố mẹ.

< Rạch Gốc là nơi cung cấp tôm sú bố mẹ lớn nhất ở tỉnh Cà Mau.

Với lợi thế cửa biển sâu, không lệ thuộc thủy triều, bến bãi thuận lợi cho tàu thuyền neo đậu, lại gần ngư trường đánh bắt của Hòn Khoai, Hòn Chuối, nên cửa Rạch Gốc thu hút nhiều phương tiện biển đến khai thác, đánh bắt. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nghề đánh bắt thủy hải sản ở Tân Ân. Hằng ngày, từ lúc 4 đến 8 giờ sáng, cửa biển Rạch Gốc lại tấp nập với các hoạt động trao đổi mua bán.

Nghề biển phát triển, kéo theo nhiều dịch vụ khác ra đời: Cửa hàng lương thực, thực phẩm; các hãng nước đá... phục vụ ghe tàu đi đánh bắt trên biển. Kinh tế ổn định, mức sống người dân ngày càng nâng cao.

< Cuộc sống của ngư dân miền biển ngày càng sung túc.

Rạch Gốc hiện nay nhà cửa khang trang, lộ xe thông thoáng; ghe máy, ca-nô lưu hành liên tục trong ngày theo hành trình từ TP.Cà Mau - Rạch Gốc. Cửa biển Rạch Gốc là nơi phát triển sầm uất, tạo tiền đề cho sự phát triển chung của huyện Ngọc Hiển. Có người ví cửa biển Rạch Gốc như miệng con rồng đang ngậm trái châu (Hòn Khoai); chân rồng là rạch Nhà Phiếu, Nhà Diệu, rạch Ô Rô và rạch Dinh Hạng; đuôi rồng là Lâm trường Kiến Vàng của Ngọc Hiển. Ông Huỳnh Văn Tuôi, 71 tuổi, Nguyên Chủ tịch UBND xã Tân Ân, nhận xét: Cửa biển Rạch Gốc là món quà thiên nhiên ban tặng, nếu được đầu tư đúng mức và đi  đúng hướng thì nghề đánh bắt thủy sản ở đây sẽ là động lực giúp quê hương đổi mới.

Bài 2: Cửa biển Khánh Hội – Vực dậy một tiềm năng

< Phương tiện đánh bắt ở cửa biển Khánh Hội.

Cửa biển Khánh Hội thuộc huyện U Minh, hằng năm, có sản lượng thủy hải sản đứng nhất nhì trong tỉnh và thủy sản còn được xem là ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế của huyện. Với lợi thế quan trọng đó, chắc hẳn trong tương lai Khánh Hội sẽ trở thành một đô thị biển đầy sức sống và sung túc.

MỘT THỜI TANG TÓC

Hơn 10 năm trước, khi cơn bão Lin-đa đi qua với sức tàn phá khủng khiếp, Khánh Hội đã phải chịu nhiều tổn thất nặng nề cả về vật chất lẫn tinh thần. Hàng trăm ngôi nhà, hàng trăm tàu biển, bị chôn vùi theo những cơn sóng dữ, hơn 1.000 người đã ra đi không trở lại... Lúc bấy giờ, Khánh Hội chỉ còn là một xóm làng điêu tàn, xác xơ, khắp nơi phủ một màu tang tốc. Thiệt hại do cơn bão gây ra không chỉ là gánh nặng của người dân mà còn là gánh nặng của chính quyền địa phương và toàn xã hội.

Các ngành chức năng cùng với chính quyền địa phương đã có những chính sách thiết thực hỗ trợ trên nhiều phương diện, các dự án tạo việc làm, cho vay vốn, hướng nghiệp... đồng loạt được thực hiện. Đó là điều kiện để người dân Khánh Hội có thể ổn định cuộc sống, vượt qua nỗi đau mất mát bằng chính nghị lực của mình - những người vốn từng phó thác cả cuộc đời mình cho biển khơi đầy bão tố.

< Sản phẩm từ cửa biển Khánh Hội.

Đã qua một thời gian, nghề khai thác thủy hải sản của vùng biển này bị trì trệ, bởi sau bão, cần khoảng thời gian dài để đóng mới tàu và cần khoảng thời gian đủ để ngư dân có thể định thần... Nhưng Khánh Hội đã có sức hồi sinh mãnh liệt, mảnh đất hoang tàn ngày nào giờ đây đã thay da đổi thịt, dù trải qua bao đau thương mất mát, nhưng nhịp sống của người dân nơi đây vẫn ngày càng khởi sắc.

VỰC DẬY MỘT TIỀM NĂNG

Trải qua bao thăng trầm, biến đổi, Khánh Hội hôm nay có những bước tiến vững chắc. Anh Nguyễn Hoàng Mãi - Chủ tịch UBND xã Khánh Hội cho biết: Khánh Hội đã hình thành một làng cá ngay tại cửa biển, với khoảng 172 tàu công suất 90CV trở lên, hơn 300 tàu công suất dưới 40CV và nhiều phương tiện đánh bắt khác. Cửa biển Khánh Hội được bao bọc bởi Hòn Phú Quốc (Kiên Giang), Hòn Khoai, Hòn Chuối, tạo địa thế an toàn, tránh được sóng to gió lớn. Cửa biển Khánh Hội có nguồn lợi thủy hải sản với giống loài phong phú... đặc biệt, ba năm trở lại đây, nhiều ngư dân đã trúng mùa mực, có điều kiện ổn định cuộc sống, vươn lên khá, giàu. Ngư dân có thể ra khơi đánh bắt vào bất cứ mùa nào trong năm, không như trước kia chỉ đánh bắt vào mùa chướng.

Hiện nghề đánh bắt truyền thống như câu cào mé, đóng đáy hàng khơi ít được chú trọng, ngư dân chủ yếu đánh bắt xa bờ để khai thác sản lượng lớn. Hằng ngày, các hoạt động trao đổi mua bán diễn ra sôi nổi, các tàu thu mua hàng thủy sản luôn túc trực ở cửa biển, ngư dân không còn phải chuyên chở xa. Cửa biển Khánh Hội còn là nơi giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động. Khi thu hoạch xong vụ lúa, những người có tàu, ghe đánh bắt lại chuẩn bị cho mùa khai thác biển, những người không có điều kiện thì khai thác theo kiểu “ăn chia”...

< Bia tưởng niệm nạn nhân cơn bão số 5.

Anh Nguyễn Vẹn Toàn chủ tàu Đức Trí - khai thác ở cửa biển Khánh Hội gần 20 năm, 17 tuổi anh đã theo cha đi biển, một khoảng thời gian dài để có thể chiêm nghiệm những gì đã qua. Anh bộc bạch: Có thể nói, khai thác biển là nghề ổn định và bền vững, bởi nguồn lợi từ biển là vô hạn, nếu tính toán cẩn thận trong quá trình khai thác sẽ thu lợi nhuận cao.

Dân đi biển ở Khánh Hội không còn “vô tư” trước sóng gió, nay, theo hướng dẫn của bộ đội Biên phòng nhiều cụm tàu thuyền an toàn đã hình thành, dựa vào nhau sẵn sàng ứng phó mọi tình huống nguy hiểm có thể xảy ra. Ngư dân cũng thường xuyên cập nhật thông tin trên báo, đài... tránh những thiệt hại đáng tiếc.

Khánh Hội không chỉ là trung tâm kinh tế thủy sản của huyện U Minh mà hiện nay, chính quyền địa phương đang phấn đấu đến năm 2010, nơi đây sẽ là thị trấn cửa biển với đội ngũ phương tiện khai thác hùng hậu nhất nhì của tỉnh. Mỗi năm ngân sách đầu tư hàng chục tỷ đồng để khai thông cửa biển cho tàu ra vào thuận lợi, thu hút nhiều phương tiện đến khai thác, đánh bắt; xây dựng các cơ sở hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm, theo đó là các loại hình dịch vụ khác phát triển, tạo đà cho Khánh Hội vực dậy nhanh chóng tiềm năng kinh tế thủy sản.

Còn tiếp

A1 - Những cửa biển ở Cà Mau
A2 - Những cửa biển ở Cà Mau
A3 - Những cửa biển ở Cà Mau
A4 - Những cửa biển ở Cà Mau

Du lịch, GO! - Theo báo Ảnh Đất Mũi và nhiều nguồn ảnh khác
Trên đường từ thành phố Quy Nhơn ra Khu kinh tế Nhơn Hội, khi đi ngang qua dãy núi Bà ở huyện Phù Cát, du khách sẽ thấy ở lưng núi thấp thoáng mái chùa đỏ thắm giữa màu xanh biếc của cây rừng. Đó là chùa Ông Núi, còn gọi là Linh Phong thiền tự - một trong những ngôi chùa lâu năm nhất của Bình Định.

Từ đường nhựa đi vào chân núi khoảng vài trăm mét du khách sẽ gặp hàng cột được trang trí công phu mở lối bước lên những bậc đá dẫn đến chùa. Lối đi quanh co theo sườn núi được tạo bởi hàng ngàn bậc đá này có từ hơn ba thế kỷ trước. Đường lên chùa vẫn còn nguyên vẻ tự nhiên, cỏ cây, hoa dại mọc chen giữa đá, đâu đó thoang thoảng mùi hoa dủ dẻ thật dễ chịu. Đi hết khoảng hơn một trăm bậc đá sẽ thấy ngôi chùa nằm ở độ cao khoảng 400m so với mực nước biển hiện ra.

Thật lạ là giữa lưng chừng núi lại có một khoảng đất khá rộng và rất bằng phẳng, đủ để xây một ngôi chùa lớn. Theo sách cũ, năm 1702, thiền sư Tịnh Giác đến núi này tu hành.

Vị cao tăng dựng một mái chùa bằng cỏ tranh, sống một mình trên núi, thỉnh thoảng mới xuống thôn xóm chữa bệnh cho dân làng. Thấy ông dùng vỏ cây làm áo quần, dân trong vùng gọi ông là Mộc Y Sơn Ông.

Năm 1733, chúa Nguyễn Phước Trú lệnh cho quan địa phương dựng chùa lại bằng ngói, đổi tên là Linh Phong thiền tự. Ông tổ tuồng Đào Tấn khi đang là Thượng thư bộ Công cũng đã bỏ tiền tu bổ lại chùa và làm thơ ca ngợi cảnh đẹp nơi này.

Ở Huế, Đào Tấn cũng lập hòn non bộ trong phủ đệ của mình, trên đó khắc hai chữ Linh Phong (hòn non bộ này hiện còn ở trong khuôn viên chùa Thiên Mụ). Chùa Ông Núi cũng được sách Đại Nam Nhất thống chí khen ngợi: “Chùa lưng dựa vào núi cao, mặt trông ra đầm biển cạn, xung quanh có nước suối lượn quanh, phong cảnh rất đẹp”.

Hiện nay, một ngôi chùa mới được xây lại rất khang trang bởi năm 1965, chùa cổ bị cháy bởi bom đạn. Chỉ còn hang Tổ, nơi thờ cúng người khai phá núi xây chùa và dòng suối nhỏ trong trẻo gợi nhớ hình ảnh ngôi chùa cổ kính ngày xưa.

Khuôn viên chùa luôn mát rượi nhờ những tán cây cổ thụ như phượng, mít, bàng. Rất nhiều liễu và hoa được trồng chung quanh hồ nước rộng ngay trước chính điện.

Đứng từ cổng chùa, nhìn ra xa thấy đầm Thị Nại trong xanh điểm những con sóng bạc. Gần chân núi là những thôn xóm mái ngói nâu nổi bật giữa đồng lúa xanh non. Dòng sông Chùa uốn lượn lung linh trong nắng, dọc bờ biển, sóng tung bọt trắng xóa. Bước chân ra khỏi chùa, nhiều du khách sẽ thấy lòng thanh thản và bỗng thấy cõi nhân gian thật hữu tình.

Phía sau chùa còn có nhiều tháp cổ xen giữa đá núi và những tán cây rừng cổ thụ. Đây là nơi an nghỉ của các vị sư. Đi sâu vào trong núi có nhiều hòn đá chồng lên nhau tạo thành những hình thù kỳ dị và cả những hang đá thâm u. Một số hang có thờ Phật nên ấm áp mùi nhang khói. Có những hang rất rộng, chứa được cả đoàn quân thời chiến. Nhiều hang đá giờ đây bị những bụi cây gai um tùm lấp mất cửa không ai dám vào. Hang động núi Bà vẫn còn đó nhiều bí mật với khách hành hương.

Du lịch, GO! - Theo TTO và nhiều nguồn ảnh khác
Găm vào ký ức tôi là hai hình ảnh trái ngược nhưng thật nên thơ: bên cạnh những công trình thủy điện đồ sộ hiện đại, tôi gặp những tộc người còn giữ nguyên vẻ hoang sơ.

< Hồ Hàm Thuận đẹp như một bức tranh thủy mặc.

Công trình thủy điện và những con thác đẹp mê hồn

Đa Mi là một xã của huyện của huyện Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận). Thời Pháp thuộc, Đa Mi thuộc về huyện Di Linh (Lâm Đồng), sau đó mới thuộc về Bình Thuận. Đa Mi là đọc chệch từ Đạ Mí. “Đạ” theo tiếng đồng bào K’ho, Raglay, Châu Ro... ở Nam Tây Nguyên có nghĩa là nơi có nước, có sông. Mí là tên riêng.

Nơi này có độ cao 600-850 mét so với mặt biển, 90% là đồi dốc, nổi tiếng với nhà máy thủy điện Hàm Thuận-Đa Mi, được đưa vào sử dụng từ năm 2001. Công suất của cụm nhà máy này hiện đứng thứ thuộc loại “khủng”, chỉ sau thủy điện Sơn La (Hòa Bình) và Yaly.

< Những con đường ở Đa Mi uốn lượn theo các dòng sông và núi.

Vùng đất này còn nổi tiếng với hai hồ nước rất lớn: hồ Hàm Thuận rộng 2.500ha và hồ Đa Mi có diện tích 700ha. Hồ Hàm Thuận gồm tám đảo nhỏ, nổi lên giữa dòng nước có “xuất thân” từ sông La Ngà (Đồng Nai). Còn hồ Đa Mi chỉ có nhiệm vụ giữ nước để làm thủy điện.

Những con sông nhỏ ở khu vực này khá đặc biệt, tất cả đều chảy theo hình chữ “S”, giống như dáng hình của đất nước. Hơn nữa, nước ở đây trong vắt, xanh màu ngọc bích và có nhiều thác gềnh. Chính sự kết hợp này đã tạo ra những cảnh đẹp đến nao lòng.

Chỉ tính riêng trong xã Đa Mi đã có rất nhiều thác nước đẹp, cao hàng trăm mét xuất hiện ngay bên đường đi. Có thể kể ra như: Thác 9 tầng, Sương mù, Tazun, Đaguri…Trong đó, nổi tiếng nhất là thác 9 tầng và Sương mù. Thác 9 tầng có đủ 9 tầng, mỗi tầng cách nhau từ 50 – 100m. Điều kì lạ là dù mùa nắng hay mưa, nước trong thác cũng không bao giờ cạn. Còn thác Sương mù thì quang năm cảnh vật như cõi bồng lai, tiên cảnh.

Gặp tộc người không thích mặc áo

< Hình ảnh này phổ biến trong các thôn, bản của người K’ho.

Giống như các vùng đất khác ở Nam Tây Nguyên, bà con dân tộc tại Đa Mi (Lâm Đồng) chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt và săn bắt như thuở xa xưa, tuyệt nhiên không có chợ để thông thương. Nạn tảo hôn vẫn còn rất nhức nhối khi dọc đường đi, chúng tôi trông thấy những thiếu nữ 13-14 tuổi đã tay bồng tay bế con nhỏ và không nói được tiếng Kinh. Đặc biệt là người K’ho.

Có một phong tục rất độc đáo của dân tộc này mà không nơi nào có-từ 50 tuổi trở đi không bao giờ mặc áo nữa. Cuộc sống du canh du cư của họ khá giống với tộc người Rục ở Quảng Bình. Nói là trong một buôn nhưng mỗi nhà cách nhau đến nửa cây số.

So với đồng bào K’ho tại nhiều nơi cũng như các dân tộc thiểu số khác, tộc người K’ho tại Đa Mi sống tách bạch với thế giới bên ngoài. Khi ở nhà hay lên rừng, người K’ho trẻ vẫn mặc quần áo, đội khăn, đeo gùi bình thường. Nhưng người trên 50 tuổi được cho là già nên ở tại nhà sàn và thoải mái…ở trần.


< Những đứa trẻ ở Đa Mi.

Chị K’Poh, người duy nhất biết nói tiếng Kinh ở thôn Đa Tro (Đa Mi) giải thích với giọng lơ lớ: “Tôi chỉ nghe ba mẹ nói, nguồn gốc chúng tôi là ở Lâm Đồng di cư xuống đây từ lâu lắm rồi. Những người già thì không cần mặc áo, còn nếu trẻ như vậy sẽ bị phạt bò đãi cả làng đó!”.

Đi qua những buôn làng của người K’ho, tôi thấy nhiều người già không hề mặc áo, chỉ mặc quần (kiểu xà-rông) màu mè. Họ hồn nhiên tiếp chuyện những người khách phương xa đến không một chút ngượng ngùng.

Người K’ho còn một tục lệ đặc biệt nữa là cà răng. Những đứa trẻ đến tuổi trưởng thành (18 mùa rẫy) đều phải tham gia tập tục này. “Đau khủng khiếp. Nhưng có thuốc rừng đắp vào nên cũng đỡ. Cà răng để thể hiện tình yêu buôn làng và chứng tỏ mình đã lớn, chịu đựng được những đớn đau, khó khăn”-chị K’Poh cho biết.


< Nạn tảo hôn ở Đa Mi khá phổ biến.

Bà Đoàn Thị Ngọ, PGĐ Bảo tàng Lâm Đồng - một chuyên gia nổi tiếng về văn hóa các dân tộc Tây Nguyên cho biết, khu vực Nam Tây Nguyên (tiếp giáp giữ Lâm Đồng và Bình Thuận) có nhiều người K’ho sinh sống, chiếm số lượng cao nhất trong các dân tộc ít người. Người K’ho chia làm nhiều nhánh: Lạch, Srê, Nôp…Họ có nhiều nét văn hóa khá giống người M’nông ở Đắk Lắk.

Chị Đoàn Thị Ngọ-GĐ Bảo tàng Lâm Đồng cho biết, người K’ho ở Tây Nguyên đến nay vẫn giữ những phong tục truyền thống như vậy. Trong khi những dân tộc ít người khác ở Tây Nguyên như: Bana, Giarai, S’tiêng, M’nông đều tiếp nhận nền văn hóa bên ngoài khá nhiều.

Trời ngả về tối, chúng tôi đã tìm thấy đường ra quốc lộ 1A sau cả buổi “lưu lạc” tại Đa Mi. Tạm biệt một vùng đất hoang sơ mà giàu tình người, chúng tôi tiếp tục hành trình với những cảm giác tươi nguyên đầy lưu luyến về một vùng đất đẹp và kỳ lạ như trong huyền thoại.

Du lịch, GO! - Theo Hoàng Hùng, Kienthuc.com

Friday, 20 April 2012

Thạch Bích sơn, tên nôm quen thuộc là núi Đá Vách, nằm sừng sững đứng giữa trời về phía đông Nam huyện Sơn Hà, giáp giới huyện Minh Long, cao khoảng 1.500 mét. 

Đây là ngọn danh sơn vào hàng cao nhất, hùng vỹ và hiểm trở nhất tỉnh Quảng Ngãi. Vùng núi non, thung lũng châu tuần chung quanh Thạch Bích với nhiều sông suối, hẻm vực là địa bàn quần cư từ lâu đời của tộc người H're.

Non núi dăng dăng đổi cả trời,
Một hòn Thạch Bích tiếng muôn đời.
Đá xây đứng sững y như vách,
Bóng xế soi về khắp mọi nơi.
(Nguyễn Cư Trinh)

Sách Đại Nam dư địa chí ước biên (Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn) phần tỉnh Quảng Ngãi, chép:
 “Núi Thạch Bích cây cỏ um tùm, chưa qua khai thác. Sương mai tím biếc, đỏ lựng ráng chiều. Tà dương soi rọi thì núi non rực rỡ như ánh sao. Trong mười cảnh đẹp của Quảng Ngãi, có một cảnh được gọi là “Thạch Bích tà dương”.

Nửa sau thế kỷ XX, ông Phạm Trung Việt miêu tả về phong cảnh Thạch Bích trong sách Non nước xứ Quảng như sau:

“Hình núi đứng cao chót vót, cỏ cây rậm rạp, thế núi quanh co, vách đá dựng ngược, phía tây thông đến các làng Thượng Minh Long có Tử Tuyền (suối Tía) rất hiểm trở.

Buổi mai khi mây ngưng sắc tía, buổi chiều hang ngậm màu son, bóng tà dương chiếu ánh đá núi đều dợn sóng như sao.

Khi mặt trời lặng bóng, cảnh vật nhuộm màu đen thì riêng đỉnh Thạch Bích còn rực rỡ ánh hoàng hôn oai hùng vươn lên chọc trời, tạo nên cảnh đẹp hùng vĩ.”

Theo sách Viêm Giao trưng cổ ký của Cao Xuân Dục, ngoài núi Thạch Bích nói trên, còn có một núi Thạch Bích khác, thấp hơn, ở phía tây huyện Mộ Đức, cách Tĩnh Man trường lũy một ngày sơn đạo. Lại có suối nước khoáng mang tên Thạch Bích, nằm về phía đông nguồn Đà Bồng, nay thuộc xã Trà Bình, huyện Trà Bồng.

Thạch Bích cũng là tên một thôn của huyện Chương Nghĩa, về phía tây bắc tỉnh thành, cận bờ bắc sông Trà Khúc, nay thuộc phường Lê Hồng Phong, thành phố Quảng Ngãi. Tuy vậy, chỉ duy nhất Thạch Bích sơn ở vùng Sơn Hà – Minh Long mới được gọi nôm là Đá Vách, còn núi Thạch Bích ở Mộ Đức, suối khoáng Thạch Bích ở Trà Bồng và thôn Thạch Bích ở hạ du sông Trà Khúc thì không!

Cho đến nay, đường lên núi Đá Vách vẫn đầy hiểm trở, cho dù có thể đến đấy theo các ngã Sơn Hà (từ Trà Nham), Minh Long (từ Long Sơn) hoặc Tư Nghĩa (từ làng Lâk, xã Nghĩa Sơn). Trong 3 lối ấy, có lẻ ngoạn mục nhất là ngã Minh Long, theo cung đường: Long Sơn – Làng Ren – Gò Tranh – Đá Vách. Ô tô, xe máy chỉ đến được Long Sơn (Thành phố Quảng Ngãi - chợ Chùa - chợ phiên Tam Bảo – Kim Thành Thượng – Long Sơn). Từ Long Sơn đến đỉnh núi Đá Vách chừng 2 ngày đi bộ và leo núi. Kể cũng là kỳ công, và chỉ giành cho những người nặng máu phiêu lưu. Ấy vậy mà có thi sỹ lại bảo “thuận đường”, nghe cũng lạ, chẳng biết thực hư:

Rồi một ngày thuận đường lên Thạch Bích
Đợi bóng chiều lấp lánh ánh tà dương
Quên làm sao ngõ ngách một con đường
Men vách đá chập chùng rêu giăng phủ
Ung Văn Khanh – Hương đất mẹ

Văn chương lắm khi chỉ là lời trần thuật những điều nằm mơ mà thấy, huyển hoặc hình dung, huyền hồ sương khói. Có ai đến được núi Thần Phù lênh đênh ngoài cửa bể? Biết người nào từng một lần gác mái chèo ngắm cảnh Đào nguyên? Vậy mà cảnh tiên, xứ Bụt vẫn được kể lại cả thiên chương vạn quyển, đời nọ nối đời kia.

Nguyễn Cư Trinh (1716 -1767), Nguyễn Tấn (1822 - 1871) dù hiểu biết khá sâu sắc về miền tây Quảng Ngãi nhưng chưa có gì chứng tỏ hai ông đã đặt chân lên những con đường ngoằn ngoèo, hiểm trở dẫn lên đỉnh Đá Vách. Cao Xuân Dục (1843 – 1923), Phạm Trung Việt (1926 – 2008), những nhà biên khảo tài hoa, miêu tả ngọn núi khéo léo đến dụ mê người đọc, chắc chắn chỉ từ phía xa vọng nhìn Thạch Bích. Nhiều khách thơ đời nay như Phạm Cung, Chiêu Dương, Ngã Du Tử, Phạm Thiên Thư... ngâm vịnh Thạch Bích tà dương qua tưởng tượng mơ hồ về một ngọn núi phía trời tây, khuất sau mây trắng.

Trèo non lội suối cũng là một thú ngoạn du giành cho những ai thích khám phá, phiêu lưu. Ước chi một ngày nào đó, Quảng Ngãi mở tuyến du lịch 12 thắng cảnh, lữ khách tha hồ mà dạo chơi lên đỉnh những Vân Phong, Vu Sơn, Thạch Bích...

Thử hỏi ngành du lịch, tại sao không?

Du lịch, GO! - Theo Quảng Ngãi Online, internet
Dao Nga Hoàng là một trong 13 dân tộc bản địa đã cư trú lâu đời tại tỉnh Yên Bái. Ngoài tên gọi như trên, đồng bào còn có các tên gọi khác như Dao quần chẹt hay Dao sơn đầu, các tên gọi này được gọi theo các đặc điểm của trang phục và trang trí của đồng bào.

Cũng như các dân tộc khác, người Dao Nga Hoàng có truyền thống văn hóa đặc sắc, phong phú, góp phần làm đa dạng nền văn hóa cổ truyền các dân tộc thiểu số Yên Bái, trong đó lễ cưới truyền thống là một điểm nhấn quan trọng trong tổng thể văn hóa đa sắc màu đó.

Người Dao Nga Hoàng có nhiều hình thức lễ cưới như: lễ cưới truyền thống, lễ cưới ở rể đời, lễ cưới gửi rể và lễ cưới kết hợp lễ cấp sắc.

Trong đó lễ cưới truyền thống là lễ cưới phổ biến nhất trong cộng đồng dân tộc Dao Nga Hoàng ở Yên Bái. Là mốc quan trọng của đời người, lễ cưới truyền thống của người Dao Nga Hoàng trải qua nhiều nghi thức đặc sắc mang đậm bản sắc riêng của dân tộc.

Để chuẩn bị cho lễ cưới chính thức là nghi lễ so tuổi. Ở đây, khi chuẩn bị cho lễ cưới, gia đình nhà trai sẽ sang nhà gái làm một lễ nhỏ để xin tuổi, sau đó họ sẽ nhờ thầy cúng xem tuổi giúp để so sánh của đôi bạn trẻ có hợp nhau không, lấy nhau có sống hạnh phúc không theo các quan niệm dân gian của đồng bào.

Thách cưới là một tập quán có từ lâu đời trong lễ cưới truyền thống người Dao Nga Hoàng. Ngày trước, với quan niệm trả công chăm lo dưỡng dục cô dâu cho gia đình nhà gái nên các gia đình thường muốn thách cưới thật cao, sao cho xứng với công sinh thành dưỡng dục nhưng món nợ thách cưới lại là gánh nặng mà nhà trai và đôi vợ chồng trẻ phải rất khó khăn cực nhọc để kéo cày trả nợ. Ngày nay, thách cưới chỉ còn là một tập quán đẹp, mang ý nghĩa nhân văn nên tiền thách cưới không còn cao nữa.

Trong lễ cưới của người Dao Nga Hoàng, không có lễ ăn hỏi mà tục bỏ ngõ được thay thế. Đây là một nghi thức quan trọng trước khi diễn ra lễ cưới chính thức. Đến ngày đã được định trước, nhà trai mang sang nhà gái một vuông vải chàm, bên trong là một đồng bạc trắng hoặc một chiếc vòng bạc để làm tin như một lời hứa chắc chắn về lễ cưới. Ông mờ, bà mờ là người tổ chức và hướng dẫn cô dâu chú rể các nghi thức và phong tục tập quán của lễ cưới. Ông mờ bà mờ của cả hai gia đình nhà trai và nhà gái phải là những người thông minh, hoạt bát, ứng khẩu nhanh nhẹn, người phải uống được nhiều rượu không say và là người hát giao duyên đối đáp thật giỏi trong lễ cưới.

Nét đặc sắc trong nghi thức đón dâu của đồng bào là nghỉ dọc đường. Các cụ già trong làng cũng không biết tập quán này có từ khi nào nhưng cho dù nhà trai chỉ cách nhà gái một quãng đường ngắn nhưng đoàn đón dâu vẫn phải nghỉ và ăn cơm, uống rượu dọc đường với những thức ăn do nhà trai đã chuẩn bị từ trước.
Tại nhà gái, lễ cúng cắt khẩu hết sức quan trọng được diễn ra vào lúc nửa đêm. Đây là nghi thức thầy cúng thông báo với tổ tiên và các thần thánh, thổ công thổ địa biết cô dâu từ nay đã đi lấy chồng, không còn thuộc “con ma” của nhà nữa. Các nghi thức của lễ cưới được diễn ra tại nhà gái trong suốt cả đêm với nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa, hát dân ca đối đáp giữa hai gia đình.

Cũng giống như các dân tộc khác, lễ cúng tổ tiên nhập gia tiên là một nghi thức không thể thiếu trong lễ cưới truyền thống của người Dao Nga Hoàng. Khi cô dâu được đưa về tới nhà trai, nghi thức cúng tổ tiên được thực hiện ngay tại bàn thờ tổ tiên của gia đình. Nhưng đặc sắc và độc đáo hơn các tộc người khác đó là trong lễ cưới truyền thống của người Dao Nga Hoàng có nghi lễ kết tơ hồng được thực hiện ngay sau lễ cúng tổ tiên.

Đây là nghi thức chính của lễ cưới. Người Dao Nga Hoàng phải tổ chức xong nghi thức này, họ quan niệm sẽ được sống hạnh phúc với nhau trọn đời, không có gì có thể chia tách đôi vợ chồng, bởi các phép kết tơ hồng đã gắn kết đôi bạn trẻ. Một đôi chiếu được trải ra trước bàn thờ tổ tiên, đôi vợ chồng trẻ quỳ trước bàn thờ, lần lượt các nghi thức của lễ kết tơ hồng được thầy cúng thực hiện nghi thức xua đuổi những điều xấu xa ra xa đôi vợ chồng trẻ, tiếp theo là nghi thức làm bùa yêu để hai người được bên nhau mãi mãi theo quen niệm từ lâu đời của người Dao Nga Hoàng.

Ngay sau bùa yêu làm bùa yểm, thầy cúng yểm cho đôi vợ chồng trẻ luôn luôn khỏe mạnh và được bảo vệ bởi các thần thánh. Kết thúc nghi thức này là lễ lạy của cô dâu và chú rể. Chú rể phải lạy đủ 12 lần trước bàn thờ tổ tiên cùng với cô dâu theo tập quán truyền thống.

Lễ cưới truyền thống của người Dao Nga Hoàng ở Yên Bái được trải qua nhiều giai đoạn, nhiều nghi thức khác nhau. Trong lễ cưới, nhiều hình thức hát giao duyên, đối đáp được hai ông, bà mờ của hai gia đình thể hiện. Lễ cưới truyền thống của người Dao Nga Hoàng ở Yên Bái như lời mời gọi, gợi mở những khám phá mới lạ, những điều thú vị, độc đáo và đặc sắc của một ngành Dao độc đáo ở Yên Bái.

Du kịch, GO! - Theo Cổng thông tin Điện tử Yên Bái, internet
Theo quốc lộ 1A từ Đà Nẵng ra Huế, qua khỏi đèo Phước Tượng, rẽ tay phải theo QL49B khoảng 10km là qua cầu Tư Hiền và con đường kéo dài đến tận Thuận An.
Đoạn đường này dài 45km, đi qua những làng biển thuộc hai huyện Phú Lộc, Phú Vang của tỉnh Thừa Thiên - Huế.

< Cửa Tư Hiền nhìn từ trên cao.

Lưu truyền rằng xưa kia, có con voi rừng chở một vị tướng bị thương băng rừng từ Bạch Mã về cửa Tư Dung (Tư Hiền). Kiệt sức, con voi trung hậu gục đầu xuống đầm Cầu Hai, rồi nằm lại vĩnh viễn. Đèo Voi (Phước Tượng) là dãy núi chạy thoai thoải ra biển, mà vòi của nó khi ẩn, khi hiện ở cửa biển Tư Hiền.

Tư Hiền, là cửa bể có phong cảnh sơn thủy hửu tình nổi tiếng của Thừa Thiên Huế. Cửa Tư Hiền cách núi Túy Vân 4km về phía đông, nằm giữa núi Linh Thái và núi Rẫm. Trước lúc đổ ra cửa Tư Hiền, đầm Cầu Hai thâu hẹp như một dòng sông với đôi bờ làng mạc sầm uất đông vui, chợ búa nhộn nhịp với nhiều  đặc sản vùng đầm phá và vùng biển, làm cho nơi đây càng trở nên hấp dẫn đối với khách tham quan du lịch.

Cửa Tư Hiền nằm giữa xã Vinh Hiền và Lộc Bình, nơi thông đầm Cầu Hai với biển Đông. Các bô lão vùng này kể rằng: Cửa biển này trước đây gọi là cửa Tư Dung, do sự tích Công chúa Huyền Trân, con vua Trần Nhân Tông trước khi xuất giá sang Chiêm Thành đã ghé lên đây bái vọng tổ tiên. Từ đó, cửa có tên Tư Dung, cái tên do lòng thương nhớ dung nhan của Huyền Trân công chúa mà thành.


< Cầu Tư Hiền.

Theo sách xưa, cửa biển này thuộc về đất nước Chiêm Thành, đời Lý gọi là Ô Long. Đến đời Trần, vua Nhân Tông (1306) gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân, đưa công chúa tới đây, nên đổi tên thành Tư Dung (Tư là nghĩ đến, tưởng nhớ đến, Dung là nét mặt, dung nhan, ý nghĩa cũng gần như chữ tư dung là vẻ mặt, là dáng dấp của người đàn bà đẹp). Dùng hai chữ Tư Dung để đặt tên cho cửa biển này, ý hẳn người Việt lúc bấy giờ một đàng muốn ghi lại cuộc hôn nhân giữa vua Chiêm và công chúa Việt, nhưng đàng khác, cũng nhằm tưởng nhớ công ơn khách má hồng đã hy sinh hạnh phúc riêng tư cho việc mở mang bờ cõi.


< Cửa biển Tư Hiền (nhìn từ đèo Phước Tượng).

Vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông ngự giá bình Chiêm, khi nghỉ chân tại cửa bể này đã làm bài thơ "Tư Dung hải môn lữ thứ", một áng thơ hay, được đời sau truyền tụng. Về sau, cửa Tư Dung cạn dần, chiến thuyền từ biển không vào được nên hiểm họa ngoại bang đánh úp kinh thành Huế khó xảy ra, vì thế, triều Nguyễn đặt lại tên là Tư Hiền.

Xã Hiền An nằm ở cuối hệ thống đầm phá nước lợ Thừa Thiên - Huế (bao gồm phá Tam Giang, đầm Sam, đầm Chuồn, đầm Thủy Tú, đầm Đá Bạc, đầm Cầu Hai...), nối liền một mạch từ tỉnh Quảng Trị vào Thừa Thiên Huế, vốn nhiều tôm rằn, cá mú, cá hồng... Nơi đây có diện tích mặt nước rộng hơn 22.000ha, là vùng đầm phá rộng nhất châu Á. Các vị bô lão cho biết: quá trình hình thành các làng cũng đã trên dưới 300 năm.

< Một góc đầm Cầu Hai.

Khu vực này có núi Linh Thái, Thúy Vân và bên kia là Lộc Bình, Chân Mây, núi non chập chùng, hùng vĩ. Chùa Thánh Duyên trên núi Thúy Vân đã được công nhận là Di sản Văn hóa quốc gia. Xưa, chùa tên Mỹ Am Sơn Tự. Đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1644) cho đặt nền móng điện Đại Hùng và đặt tên chùa Thánh Duyên. Ngày nay, nhân dân gọi là núi Thúy Vân, chùa Thánh Duyên...

Núi Thúy Vân có đỉnh cao 60m so với mặt nước đầm phá, là một khu rừng đại ngàn rậm rịt cây lá cổ thụ, khí hậu mát mẻ. Dọc theo đường cái là những ngôi làng hoang sơ, những đền đài miếu mạo cổ xưa. Chợ quê mua bán vào buổi chiều, với nhiều loại thủy hải sản phong phú. Đến đây, bạn có thể thưởng thức món cháo hàu, hàu xào lá lốt béo ngậy, thơm lừng. Trong khi chờ đợi món ăn, còn gì thú vị bằng được theo ghe thuyền đi thăm thú các mô hình nuôi cá, nuôi ghẹ trên đầm nước mênh mông.

Có bài thơ "Tư Dung vãn" của Đào Duy Từ rằng:

"Khéo ưa thay cảnh Tư Dung
Cửa thông bốn bể, nước thông trăm ngòi".
......
"Động Đình nước ấy, Thái Hằng kìa non
Đông tây nọ khách vãng lai
Rước ai nọ quán, đưa ai nọ đò".
......
"Dập dìu thuyền xuống buồm lên
Cánh hồng lướt gió khách tiên nghiêng hồ
Bên ngàn đá mọc khi khu
Cây che tấm gấm ngàn thu diễm tà".

Du kịch, GO! - Theo Báo Phunu, web Hue
Dân miền Tây  phân biệt hai loại dơi chính: dơi sen và dơi quạ. Dơi quạ là dơi đen và to con hơn dơi sen màu lông chuột. Theo lời truyền tụng của người dân miền Tây, dơi quạ hay dơi sen thì cũng xấu và hôi, nhưng người ta bảo rằng dơi bắt được ngửi càng hôi thì thịt lại càng thơm.

Vào khoảng chập tối, một nhóm vài ba người lại chuẩn bị nào dơi mồi, nào lưới dợt, giỏ đựng dơi. Đám thợ săn dơi bảo, nếu chưa có dơi mồi thì phải chọn người biết cách thổi để dẫn dụ dơi đến.  Thường dùng lá mì hoặc lá cầy mỏng có độ đàn hồi, dùng hai bàn tay kẹp lá mì chụm lại thổi, bắt chước tiếng dơi kêu. Người thổi tốt hay không được “thấy” rõ qua việc dơi tìm đến nhiều hay ít? Chuẩn bị xong, trời cũng vừa tối mịt, cả nhóm đi theo dọc bờ vườn, chọn nơi thuận lợi để dơi dễ sà xuống, dân trong nghề quen gọi là “bến dơi”.

Dợt chụp dơi được dựng lên thì bắt đầu thổi. Việc đầu tiên là phải cố gắng bắt cho được dơi mồi. Sau khi nghe tiếng dơi mồi kêu, dơi sẽ tìm đến, sà xuống thấp, người cầm dợt cứ việc dợt theo dơi. Đêm càng sâu dơi tìm đến càng nhiều. Vào những đêm trăng sáng việc bắt dơi rất khó nên thường rất ít người đi dợt. Khi thổi dơi ở bến này một hồi lâu, không thấy dơi sà xuống nữa, vì bến bị động, dơi sợ, thì sang bến khác, tiếp tục cho đến khi đầy giỏ mới về.

Mỗi đêm đi bắt, chiến lợi phẩm là dơi sen, còn các loại dơi khác (như dơi muỗi chẳng hạn) bắt được thì bỏ, vì thịt không ngon. Mùa bắt dơi sen rộ nhất là vào mùa trái cây chín, nhất là mùa nhãn. Lúc này, dơi rất mập và thịt rất thơm ngon. Trong các loại dơi miệt vườn Nam Bộ, dơi quạ là to nhất, thịt nhiều nhưng rất khó bắt vì chúng bay rất cao. Chúng thường xuất hiện vào những đêm trăng sáng, khi những cành gòn trổ bông, để hút nhuỵ hoa. Để bắt được loại này người ta phải dùng nạng thun để bắn. Dơi có nhiều món, nhưng thích nhất vẫn là món dơi sen nấu cháo.

Đi bắt dơi về đến nhà thì đêm đã khuya, mọi vật như đã chìm vào giấc ngủ. Trên bếp lửa, người ở nhà lui cui chuẩn bị bắc nồi lên nấu cháo, và xắt bắp chuối xiêm, để sẵn. Thao tác làm thịt dơi phải đúng cách, nếu không thịt dơi sẽ mất đi hương thơm và vị ngọt. Đặc biệt, khi làm thịt dơi không được rửa nước. Người chế biến nắm cánh dơi, lột da, rồi ngắt phía sau rút hết ruột, thế là xong. Thịt dơi có thể băm nhỏ hoặc xắt miếng, bắc chảo lên khử tỏi cho thơm, rồi để thịt vào xào, vừa chín thì lấy ra cho vào nồi cháo nấu tiếp, nêm nếm vừa ngon thì dùng tô đã chuẩn bị sẵn, rau bắp chuối để dưới và múc cháo vào, ăn nóng. Tiêu, ớt, chanh xắt và nước mắm chua ngọt sẵn sàng để tuỳ theo khẩu vị mà người ăn có thể thêm vào.

Đối với món cháo dơi, cách chế biến cũng bình dị như các loại cháo khác, nhưng điểm độc đáo là cháo dơi rất thơm ngọt tự nhiên, lại ăn giữa đêm khuya tĩnh lặng. Ngoài ra, dân nhậu miền Tây còn có thể thưởng thức món dơi khìa nước dừa, trộn gỏi bắp cải, cuốn bánh tráng chấm nước mắm chua ngọt.

Nghe cánh bợm nhậu, thịt dơi ăn vào rất mát lại bổ cho chân và thận. Theo họ, con dơi sống trong bóng đêm, tích tụ được nhiều âm khí nên huyết nó mát, lại chỉ ăn côn trùng sâu bọ, trái chín cây nên thịt rất sạch. Các món ăn được chế biến từ thịt dơi có khá nhiều, nhậu chế một kiểu, ăn thường lại kiểu khác. Con dơi lột da, bỏ ruột chặt miếng ướp muối tiêu nướng chín trên than hoa kèm chút rau thơm chấm muối tiêu chanh ăn nóng hôi hổi khiến người ta liên tưởng đến thịt gà mà không phải gà, thịt chim mà không phải chim, cảm giác về vị ngon rất lạ lùng.

Theo lời dạy bảo của… các ông bợm nhậu, thịt dơi kẹp lại nướng than tàu vừa nóng, nhắm với rượu, đậm hơn thịt gà, xương mềm hơn, nhai giập ra ngon lạ lùng, mà lại thơm, thoang thoảng cái vị chim se sẻ. Nướng được gắp nào, nhắm ngay gắp đó, điểm mấy cánh ngò và mấy tí hành hoa chấm muối, tiêu, chanh, ớt, thế là xong!

Dơi còn được dân miền Tây ăn với cơm, dơi có thể làm thành nhiều thứ, tuy nhiên nhưng được hoan nghênh nhiều là hai món xào lăn và băm viên; nhưng dù là nướng chả, băm viên hay xào lăn, tất cả các thứ đó cũng không quí bằng món huyết - một “siêu phẩm” của dơi mà họ bảo rằng là còn quí hơn cả tiết dê và tiết chim se sẻ.

Dơi được giết ra thịt  trắng. Những người lớn tuổi ở đây bảo rằng: món cháo thịt dơi với đậu xanh ăn vào rất mát mẻ, bổ dưỡng tăng cường sinh lực.

Người dân miền Tây chỉ thường ăn dơi quạ,  vì dơi quạ to con, lợi thịt, nhiều huyết. Căng một con dơi quạ lớn ra, từ đầu cánh này sang đầu cánh kia có thể dài đến một sải tay. Thui lông đi rồi, con này to chừng con gà mái tơ.

Còn dơi sen là giống dơi mà người ta vẫn thường thấy chiều chiều bay chập chờn trên thành phố hay đồng quê bắt muỗi. Giống này nhỏ, chỉ hơn con chim sẻ một chút và có tiếng là hôi hơn quạ nhiều. Người dân ở đây bảo rằng, dù là dơi sen hay dơi quạ, một khi làm thịt mà bỏ mấy cục xạ đi rồi, thì thịt cũng thơm phưng phức, hấp dẫn đáo để. Trời nóng, ăn không được, muốn đổi món cho lạ miệng thì làm bát cháo dơi mà ăn, mát ruột mà lành. Song đã ăn dơi thì phải có rượu.

Chẳng biết thực hư thế nào, mà dân nhậu miền Tây thường kháo nhau huyết dơi quạ pha với rượu  uống có thể trị được bệnh ho lao, đau phổi nặng. Tuy nhiên, việc lấy được huyết dơi cũng rất khó, tốn nhiều công sức.

Dân nhậu  xúi nhau muốn ăn thịt dơi thì về miền Tây. Ở Sóc Trăng có ngôi chùa của người Khơ me Nam bộ. Đây gần như là ngôi chùa Khơ me duy nhất thờ Phật trong số mấy trăm ngôi chùa nằm rải rác khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long. Khách du lịch thường gọi đó là Chùa Dơi vì vài trăm năm nay ở chùa có đàn dơi quạ tự nhiên quần tụ sinh sống, số lượng có lúc ước tới hàng triệu con. Dơi quạ con lớn có sải cánh dài đến trên 1m, thân mình to bằng cả chú gà tơ. Cứ chập choạng tối và tờ mờ sáng là lúc chúng ràn rạt kéo bầy đi kiếm ăn.

Dơi quạ là loài dơi to nhất (mỗi con nặng cả ký và khi bay giang cánh ra dài cả 2 mét), lại sống bằng cách hút mật bông sầu riêng, ăn chôm chôm chín nên được "mệnh danh"  là thịt đại bổ.

Dơi đem thui riêng hai đầu cánh nó đi, vặt lông măng cho thật sạch rồi chính tay  cắt tiết ở hai đầu cánh ấy, hứng vào rượu, khoắng lên cho đều mà uống ngay mới tốt. Cầu kì hơn một chút thì lúc cắt nên bỏ đi tí huyết đầu, tí huyết đuôi, chỉ dùng cái huyết giữa
Dơi quạ chỉ xuất hiện hai lần trong một năm. Lần đầu là đúng vào mùa sầu riêng trổ bông và lần thứ hai vào khoảng Tết Ðoan Ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch): mùa chôm chôm chín. Dơi quạ bay theo từng đàn hàng chục con và chọn những cây sầu riêng cao đang nở bông trắng xóa, thơm ngát đổ xà vào cắn đài bông hút mật. Chúng bất ngờ xuất hiện vào lúc nửa khuya về sáng, bâu vào cành, ngọn sầu riêng để cắn bông

Mờ sáng, đàn dơi quạ biến mất nhưng chủ vườn vẫn nhận diện được dấu vết mà chúng đã ghé qua bằng bông sầu riêng xả trắng gốc cây. Dơi quạ ngủ rất nhiều, suốt cả ngày đến nửa đêm.

Dơi quạ to bằng con mèo nhưng khi chặt bỏ đôi cánh, chân và lột da chỉ còn một khối thịt đỏ hỏn nặng khoảng nửa ký, được dân nhậu chặt ra xào lăn. Nhưng món làm nên "tên tuổi" cho dơi quạ lại là nấu cháo đậu xanh. Thịt dơi được băm nhuyễn nêm nước mắm, củ hành, bột ngọt cho xào nhẹ một lượt rồi đổ vào nồi cháo nấu nhừ với đậu xanh. Đẻ át hơi hôi của dơi, khi chế biến dân nhậu thường  rắc thêm một ít tiêu, hành ngò...

Du kịch, GO! - Theo Dulich Datviet

Trong con mắt người Châu Á chúng ta, đất nước Syria chưa bao giờ được nhắc đến như là một điểm đến du lịch đáng để khám phá. Và đặc biệt là trong bối cảnh chính trị bất ổn từ hơn 1 năm nay thì người ta lại càng có nhiều lý do để không đến Syria. Nhưng tôi nghĩ thế thì cũng hơi bất công cho quốc gia này quá vì trong quá khứ Syria luôn nổi tiếng là một quốc gia ổn định chính trị bậc nhất Trung Đông. Chính vì sự ổn định đó mà quốc gia này im hơi lặng tiếng và chẳng bao giờ được nhắc đến trên diễn đàn quốc tế. 



Ngược lại với con mắt nhìn Châu Á, Syria lại là một điểm đến ưa thích của phương tây và họ coi đây là một quốc gia đặc trưng về du lịch văn hóa. Người ta không đến Syria để tắm biển hay nghỉ dưỡng mà là để trau dồi kiến thức văn hóa trình độ cao. Điều đáng nói ở đây là các kiến thức đó lại thiên về nền văn minh Châu Âu nhiều hơn, khiến cho việc quảng bá hình ảnh đất nước Syria trong con mắt du khách Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng cực kỳ khó khăn. Thật vậy, nếu như bạn mù tịt chẳng biết gì về lịch sử Châu Âu hay văn hóa ảrập thì e rằng cuộc du ngoạn của bạn trên đất nước này sẽ trở nên nhàm chán. Vậy chính xác thì người ta thăm gì ở Syria ? Có 3 điểm nổi bật nhất : các di tích lịch sử liên quan đến nền văn minh La Mã, tiếp đến là các lâu đài trung cổ trong các cuộc thập tự chinh và cuối cùng là văn hóa kiến trúc Hồi giáo. Các khía cạnh này sẽ được đề cập dần dần trong các bài sau. 


Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống