Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Saturday, 14 April 2012

Ngày quay lại “miền biển ngọt”, miền biển mà tôi tự cho là ngọt. Có thể nhiều người thắc mắc, biển sao lại ngọt... 

Nhưng tôi cam đoan là như thế, nếu một lần bạn được đến nơi đây. Nơi có sự ngọt ngào của xứ dừa, của cánh đồng dưa hấu, của những nồi ốc mỡ, những mảnh lưới đầy cá ngát và ngọt nhất vẫn là tình cảm của anh.

Anh đã tâm sự với tôi. Dưới miền này, cái gì cũng thiếu, chỉ có tình cảm không bao giờ thiếu. Câu nói ấy làm tôi suy nghĩ trong suốt một đêm tại nơi đây. Và tự hứa với lòng mình, một ngày nào đó sẽ quay lại, và mang thêm những người bạn để cảm nhận được tình cảm của anh đối với 4 người chúng tôi trong chuyến đi lạc giữa một vùng xa lạ ngày ấy.

Nhật ký chuyến đi:

Cái ngày đầu tiên, đặt chân đến cũng là do duyên số. Cách đây  chưa đầy 2 tháng, chúng tôi đã cố tìm đến 1 vùng biển, nơi có khu bảo tồn thiên nhiên Thạnh Hải để đến với rừng ngập mặn, khu bảo tồn, tiện thể nơi đây cũng là 1 vùng đất thiêng, nơi tập kết mà người ta gọi là đường HCM trên biển.

< Con đường dẫn chúng tôi ra biển.

Cái duyên số không thể đến với rừng ngập mặn để tiến ra biển được, vì muốn đi phải băng qua 1 khu đầm lầy. Trong khi đó trời đã sẫm tối. (Người ta nói trong khu rừng ngập mặn này có rất nhiều rắn)

< Có đoạn phải khiêng xe như thế này.

Đoàn quyết định tìm chổ dừng chân và sẽ cắm trại trên biển. Đi loanh quanh từ 5h đến 8h tối mới tìm được bãi đáp mà trong lúc vừa tới cũng không biết mình đang ở trên biển.

Chạy hoài trong cánh đồng dưa hấu (lúc đó người ta trồng toàn dưa hấu) chạy đến khi, dưới bánh xe nghe tiếng tủm tủm của nước (theo cảm tính). Nhìn xa qua dải cát mới nghĩ là mình đang trên bờ biển. Cả đoàn coi như vừa mừng vừa lo. Mừng vì đã tìm được biển, lo vì nơi đây không 1 căn nhà, không một bóng người.

Anh Ku Kòy (trưởng đoàn) nói: Dù cho thế nào đi nữa nhất định phải ở đây. Không thể quay về được. (Nếu có quay về không biết tìm được đường ra không nữa). Đoàn quyết định chạy dọc bờ biển tìm nhà dân hoặc khu du lịch và xin cắm trại gần nhà dân cho an toàn.

Chạy 1 đoạn gặp ngay căn nhà hoang (Sau này nghe anh Điền kể lại là trước đây người ta làm du lịch, nhà hàng, sau đó bị biển đánh sập). Lúc này ai nấy cũng bủn rủn tay chân. Vừa lo, vừa sợ.

Quyết định chạy tiếp. Đi được thêm khoảng 2km thấy 1 căn nhà có ánh đèn. anh KuKoy chạy vào liên hệ. Nhưng vào chỉ thấy đèn sáng mà không có người. Thế là hồi hộp chạy ra, đi dọc bờ biển tiếp. Hy vọng sẽ tìm được khu du lịch khác hay nhà dân.

Đi thêm khoảng 1km nữa thì thấy 2 căn nhà sát nhau. Căn nhà mà chuyến đi vừa rồi lại đến. Đêm đó chúng tôi có 1 phen hú hồn. Khi bị lạc giữa cánh đồng dưa và 1 căn nhà hoang, 1 căn nhà có đèn mà không có người.

Gia đình anh Điền đón tiếp chúng tôi nhiệt tình như vốn những gì dân dã vẫn hay nói là Nghèo mà có tình.

< Chuẩn bị đồ nghề.

Buổi tối hôm đó, sau khi xin ngủ gần nhà, nhưng gia đình đã đồng ý và nói: “Nếu lỡ tới đây thì ngủ tại đây luôn”. Nhưng vốn cái tính thích “ăn bờ, ở bụi”, thích phiêu lưu chúng tôi mới đến được nơi này và xin ngủ ngoài bờ biển.

Anh lại lủi thủi vào rừng dương, vác rựa chặt cho 2 cây trụ, và chôn 2 cây trụ đó trên bãi cát, để chúng tôi có thể cột võng mà ngủ.

Đoàn chỉ có 4 người. Kau (tôi), anh Ku Kòy, chị Bằng Lăng và Quí. Anh Ku Kòy mang võng nên ngủ võng, còn lại 3 người ngủ lều mang sẵn. Tự nghĩ lại, có lẻ chúng tôi may mắn tìm được nhà anh Điền chứ không thì không biết sẽ lo sợ như thế nào.

Anh Điền mang vội vài trái dưa hấu vừa hái ngoài vườn mời chúng tôi và gọi 2 ông anh láng giềng gần đó ngồi nói chuyện và kể vì sao tới được đây. Sau đó 11h chúng tôi được tự do thỏa mái ngắm trăng, nghe sóng biển vỗ rì rào.

< Anh kéo lên cho chúng tôi gỡ.

Có trăng tròn, có gió, có sóng biển, được nằm đong đưa trên võng giữa một bãi cát. Cứ như mình đang nằm trên thiên đường.

Sáng hôm sau, tôi ngủ dậy sớm. Vì tôi đi chơi đâu cũng hay có cái tật tận hưởng nên thời gian ngủ ít. Cố dậy sớm tìm cho mình cảm giác bình minh nơi xứ lạ. Sau khi đánh thức đoàn dậy, đánh răng rửa mặt.

< Cá đối và cá ngát.

Ôi, bình minh ở đây đẹp và yên bình làm sao. Phản chiếu trên mặt biển như một bức tranh đẹp siêu lòng người khách lạ.

Anh Điền rủ chúng tôi đi kéo lưới, gỡ cá ngát, cá đối. Thế là đoàn có một phen được hú hí với biển, với lưới. Làm ngư dân thứ thiệt. Nào là kéo lưới, lượm ốc, đào còng. Tha hồ tung tăng, tạo dáng trên biển.

< Ốc mỡ.

Chính những con cá kéo được, vợ anh nấu một nồi canh cá ngát nấu bông thiên lý thiệt bự, cá đối thì chiên giòn để đãi cho chúng tôi. Đoàn có một bữa no nê hê hả với các món ăn dân dã dường như nơi nào cũng có nhưng không ngon như thế nào.

Khi chia tay anh mà lòng chợt buồn không biết là khi nào mới gặp lại anh. Như đã hứa với anh và với miền biển này là một ngày không xa sẽ ghé lại thăm anh.

Từ trong đáy lòng, tôi cảm thấy miền biển này rất ngọt dù nó không đẹp như biển Phan Thiết hay Nha Trang, nhưng nó có 1 vẻ đẹp rất khác, rất chân chất tình cảm.

Du lịch, GO! - Theo Kaurita - Yume
Có lẽ không ai còn nhớ thuở khai thiên lập địa, hồ Tây ngày nay có tên gọi là gì.
Cũng như Đại La-Thăng Long-Đông Đô-Bắc Thành-Hà Nội hay đối với Sông Cái-Nhị Thủy-Nhị Hà-Hồng Hà, trải qua các thời kỳ lịch sử, Hồ Tây cũng có những tên gọi khác nhau. Điều này phụ thuộc vào ý nghĩa văn hóa từng thời đại, cũng như ý chí chủ quan của con người, nên mỗi tên gọi ấy đều gắn với từng sự tích, từng câu chuyện dân gian.

Đầm Xác Cáo

Đầm Xác Cáo có lẽ là tên gọi xưa nhất của hồ Tây, gắn với sự tích con hồ ly tinh chín đuôi.
Sự tích kể rằng nơi đây ngày xưa là rừng rậm hoang vu và nhiều gò núi. Ở đó, có một con hồ ly tinh chuyên tác oai tác quái quấy nhiễu dân lành, nhưng việc diệt trừ hồ ly tinh được kể trong các câu chuyện dân gian cũng khác nhau.

< Hồ Dâm Đàm xưa.

Một chuyện cho rằng Lạc Long Quân vì thương xót con dân nên đã dâng nước biển dìm chết con cáo và tạo ra hồ nước. Một câu chuyện khác kể về Huyền Thiên cũng vì thương xót và nghe lời cầu khẩn của dân chúng mà diệt trừ con cáo. Sau khi con cáo bị tiêu diệt, một hồ nước đã được tạo ra. Từ đó, hồ có tên là đầm Xác Cáo.

Nguyễn Huy Lượng trong "Tụng Tây Hồ phú" có câu: "Trước bạch hồ nào ở đó làm hang/ Long vương hổ nên vùng đại trạch" là để nói về sự tích này.

Hồ Kim Ngưu

Hồ Kim Ngưu gắn với sự tích con trâu vàng. Song sự tích này cũng được kể lại khác nhau.
Một câu chuyện kể rằng, khi con trâu vàng nghe tiếng chuông của ông Khổng Lồ ngỡ là tiếng mẹ gọi, bèn chạy từ Trung Quốc sang đến bên quả chuông lớn. Nó cứ loay hoay tìm quanh quả chuông, rút cuộc làm đất lở khiến cả quả chuông và con trâu sụt xuống tạo thành một vực sâu. Về sau mưa làm ngập lụt tạo thành hồ, cả quả chuông lẫn con trâu vàng đều không vớt được.

Câu chuyện khác thì kể rằng ngày xưa ở núi Tiên Du có con trâu vàng bị một Pháp sư yểm bùa, vùng dậy chạy. Chạy mãi, chạy mãi qua mỗi nơi, bằng sức mạnh của mình, nó đều tạo ra các dấu tích.
Cuối cùng nó chạy tới đầu sông Tô gặp một hồ nước, nó nhao xuống bơi lội thỏa thích rồi ở luôn trong lòng như đứa con lưu lạc vừa tìm được mẹ. Từ đó, hồ Tây có tên là hồ Kim Ngưu và dân gian còn truyền tụng câu:

"Trâu vàng ẩn mãi giữa hồ,
Nước dù cạn vẫn mịt mù tăm hơi"

Lãng Bạc

Theo "Tây Hồ chí", thì sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa bi hùng của Hai Bà Trưng, Tướng quân Mã Viện với tư cách là kẻ thôn tính văn hóa đã gọi hồ Tây là Lãng Bạc với ý nghĩa hồ đầy sóng vỗ. Tên gọi này thể hiện ý nghĩa rõ nhất vào những ngày giông bão, mặt hồ rộng, sóng nước nổi lên ầm ầm, tạo ra một cảnh hồ hùng tráng và nên thơ.

Dâm Đàm

Dâm Đàm với ý nghĩa là đầm tràn đầy nước. Có lẽ ý nghĩa ấy muốn nói tới sự rộng lớn, mênh mang sóng nước của hồ Tây.

Tên gọi này cũng không biết chính xác được gọi trong thời gian nào, nhưng theo cố giáo sư Trần Quốc Vượng thì Dâm Đàm có tên thật từ thời Lý-Trần (thế kỷ X-XV) với huyền tích Lý Nhân Tông ngồi thuyền Mục Thận xem đánh cá, gặp sương mù, có thuyền tới gần, trên có hổ, Mục Thận quăng lưới bắt hổ, hóa ra đó là Thái sư Lê Văn Thịnh và ông cho rằng Dâm Đàm nghĩa là hồ mù sương.

Câu chuyện về vụ Thái sư Lê Văn Thịnh mưu hại Vua Lý Nhân Tông được các sách ghi chép khác nhau.

Sách "Việt điện u linh", truyện "Thái úy Trung duệ Vũ Lượng Công của Lý Tế Xuyên" (Thế kỷ XIII) có đoạn viết: "Vào thời Lý Nhân Tông, quan Thái sư Lê Văn Thịnh nuôi được một tên gia nô người Đại Lý, có thuật lạ đọc thần chú biến được thành hổ báo. Lê Văn Thịnh cố dỗ dành tên gia nô dạy pháp thuật cho mình, sau khi học được rồi thì Văn Thịnh lập mưu giết chết tên gia nô.”

Vụ án Đâm Đàm này là một câu chuyện hoang đường, đó chỉ có thể là một màn ngụy trang cho một sự tranh giành quyết liệt trong nội bộ triều đình nhà Lý vào cuối thế kỷ XI và sự thất thế dẫn đến việc buộc phải ra đi của Lê Văn Thịnh. Hoặc câu chuyện phản ánh mâu thuẫn về tôn giáo, tư tưởng xã hội của thời đại.

Lúc này, Nho giáo đang dần khẳng định vị trí của mình mà Lê Văn Thịnh là người khai khoa cho lịch sử khoa cử Nho giáo Việt Nam. Lê Văn Thịnh quê ở Bắc Ninh, ông đỗ đầu khoa Minh kinh bác học năm 1075, đời Lý Nhân Tông, ông từng làm chức Thị lang Bộ Binh.

Năm 1084, ông làm Chánh sứ đi sứ sang Tống, bằng tài ngoại giao, ông đòi lại được vùng đất Vật Dương, Vật Ác (Cao Bằng) từ triều đình phương Bắc. Vì công lao của ông đối với triều chính, Lê Văn Thịnh được phong Thái sư năm 1096.
Sử sách không thấy ghi mâu thuẫn triều chính của Lê Văn Thịnh nên khi vụ án Dâm Đàm xảy ra, ông bị xích sắt đóng cũi và bị đày lên thượng nguồn Sông Thao nhưng không bị giết vì Vua đã nghĩ đến công lao của ông.

Còn Mục Thận làm nghề chài lưới đánh bắt cá ở Dâm Đàm, nhờ có công cứu Vua Lý Nhân Tông nên được phong làm Đô uý và được ban đất quanh hồ làm thực ấp. Khi mất, ông được lập đền thờ ở làng Võng Thị, truy phong tước Thái úy Duệ Lượng Công.

"Đền Mục Lang hương lửa chẳng rời,
Tay lưới phép còn ghi công bắt hổ"
(Nguyễn Huy Lượng- "Tụng Tây Hồ phú")

Một vụ án đậm chất thần bí, hoang đường ma thuật phản ánh mâu thuẫn tôn giáo của một thời đại. Về sự việc này, Vua Tự Đức (1848-1883) có thơ vịnh:

"Yên ba cửa dĩ ký bình tung,
Tự liệu quân vương giải cấu phùng
Võng lý vô ngư hoàn hữu hổ
Tây Hồ hà loạn thiếu ngư long"

(Khói sóng đã lặng yên, việc cũ qua rồi, giúp nhà Vua, mà gỡ bỏ mối gặp gỡ. Trong lưới không có cá, chỉ có hổ. Lo gì hồ Tây thiếu cá)

Tây Hồ

Sử sách ghi rằng: “Đến năm 1573, để tránh tên húy của Vua Lê Thế Tông là Duy Đàm, người ta đổi là Tây Hồ.”
Cái tên Tây Hồ có từ đó, ngoài lý do trên, có lẽ việc đặt tên này nhằm sánh với phương Bắc, vì ở Trung Quốc cũng có Tây Hồ nổi tiếng ở Hàng Châu. Việc đặt tên các địa danh, sông hồ của Việt Nam theo Trung Quốc là chuyện bình thường.

Nhiều người giải thích rằng Tây Hồ nghĩa là hồ phía Tây kinh thành, e không hợp lý. Cũng như Hà Đông, nếu xem bản đồ Hà Nội, thì địa danh trên không đúng theo phương vị Đông và Tây.
Tây Hồ là cách đọc Hán Việt của hồ Tây, và hồ Tây đã trở thành cái tên gần gũi, lâu dài, nên thơ nhất đối với người Hà Nội cũng như nhân dân cả nước.

Đoài Hồ

Chúa Trịnh Tạc (1657-1682) được phong tước Tây Vương, nên địa danh có chữ Tây bị ông ra lệnh đổi thành Đoài (quẻ Đoài thuộc phương Tây - ý nghĩa như nhau, âm và chữ khác nhau) như Sơn Tây gọi thành Xứ Đoài, bởi vậy nên Tây Hồ được gọi là Đoài Hồ. Nhưng cái tên Đoài Hồ không được dùng lâu, đến hết đời Chúa Trịnh Tạc dân ta gọi lại như cũ là hồ Tây.

Du lịch, GO! - Theo Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long/Vietnam+, ảnh internet
Cuộc thi Trình diễn pháo hoa quốc tế tại Đà Nẵng là chương trình được tổ chức cho tất cả mọi người dân, cho ngành du lịch, cho thành phố Đà Nẵng nói riêng cũng như của cả nước nói chung. Người dân và du khách đang đón chờ cuộc thi năm nay với sự hồi hộp và niềm hứng khởi đặc biệt…

Ông Ngô Quang Vinh, Giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch cho biết, tình hình triển khai các nội dung phục vụ DIFC 2012 đang được tiến hành khẩn trương, bảo đảm tiến độ đề ra. Đến nay, hệ thống thiết bị của đội Pháp đã đến Đà Nẵng. Dự tính, công suất đặt phòng trong hai ngày 29 và 30-4 tại Đà Nẵng ước đạt 79%.

Về chương trình nghệ thuật do Nhà hát Trưng Vương đảm nhiệm với thời lượng 45 phút/đêm. Chương trình nghệ thuật chính để truyền hình trực tiếp do Công ty Sơn Lâm thực hiện kịch bản.

Ngoài các khán đài A, B, C có 25.174 chỗ ngồi, lắp đặt thêm 2 khán đài B4 và B5 quy mô gần 7.000 chỗ ngồi ở phía tây đường Trần Hưng Đạo theo chỉ đạo của UBND thành phố, nâng tổng số ghế ngồi tại các khán đài lên hơn 32 nghìn chỗ. Ngoài ra, tại các khán đài và dọc theo đường Bạch Đằng, Ban tổ chức sẽ bố trí khoảng 20 cụm âm thanh và màn hình để phục vụ khán giả.

Về công tác vệ sinh môi trường, ông Lê Đỡ, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Đà Nẵng cho biết, sẽ lắp đặt 84 nhà vệ sinh lưu động, chủ yếu quanh các khu vực khán đài, tăng 11 cái so với năm ngoái.

Ngoài ra, trước và sau cuộc thi, đơn vị sẽ tiến hành rửa một số tuyến đường dẫn vào khu vực khán đài để bảo đảm vệ sinh môi trường.  Công ty Nghệ thuật Việt cho biết, tính đến ngày 20-3, tổng giá trị vận động tài trợ cho cuộc thi là 32 tỷ 279 triệu đồng, việc kêu gọi tài trợ cho cuộc thi vẫn đang được tiếp tục.


< Chuẩn bị sân khấu.

Ngoài 5 điểm bán vé tại Đà Nẵng, vé xem pháo hoa sẽ được bán tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Các đơn vị tàu thuyền vận chuyển khách du lịch của thành phố có đủ điều kiện được bán vé phục vụ khách du lịch.

Bên cạnh hoạt động chính là các màn trình diễn pháo hoa của các nhà vô địch, để phục vụ cho người dân và du khách đến với Đà Nẵng trong thời gian này, thành phố cũng đã tổ chức nhiều hoạt động phụ trợ như: Cuộc thi trình diễn pháo hoa trên máy vi tính lần 2; Diễu hành thuyền hoa, thả hoa đăng trên Sông Hàn; Trưng bày tượng đá Non Nước; Khu trò chơi dân gian, diễn xướng bài chòi, chợ đêm; Khu ẩm thực, Khu gian hàng bán thức ăn nhanh.

Các quầy bán hàng lưu niệm; Giới thiệu các khu du lịch, danh lam thắng cảnh của Đà Nẵng và Khu gian hàng trưng bày các dự án bất động sản; Diễu hành xích lô hoa; Biểu diễn âm nhạc đường phố;  Vũ hội Vui cùng pháo hoa; Lễ hội "Văn hóa - Ẩm thực - Du lịch DIFC 2012"; Các tour, tuyến du lịch... và đặc biệt là Chương trình nghệ thuật "Lung linh sắc Việt" lần 2.

Để đáp ứng nhu cầu xem pháo hoa trên thuyền của du khách, UBND thành phố Đà Nẵng cũng cho phép các đơn vị có tàu du lịch bán vé trên tàu xem trình diễn pháo hoa; tuy nhiên phải có cam kết đảm bảo về an toàn, chất lượng dịch vụ và giá vé bán cũng không được quá 300.000 đồng/vé/người/đêm.

Cuộc thi năm nay, Đà Nẵng quyết định đổi tên cuộc thi thành Cuộc thi Trình diễn pháo hoa quốc tế Đà Nẵng. Sự kiện này trở nên đặc biệt hơn khi TP này quyết định chọn 04 đội vô địch của Cuộc thi 4 năm trước, cùng với đội Đà Nẵng - Việt Nam tham gia tranh tài. Chính vì thế, chắc chắn các màn trình diễn của Cuộc thi lần thứ 5 này sẽ là một "trận chung kết" giữa các anh tài pháo hoa thế giới.

Pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2012

Du lịch, GO! - Theo Datviet

Friday, 13 April 2012

Cù lao Chàm là nơi duy nhất của tỉnh Quảng Nam có loài chim Yến hàng - Collocalia Fuciphaga Genmaini Oustalet, thuộc phân giống Yến hông xám (Swiftlets), giống Collocalia, họ Apodidac, bộ Yến Apdiformes. Chim Yến có vóc dáng chỉ nhỏ bằng chim sẻ, hông và bụng màu xám, toàn thân nâu đen; cánh dài ( 115-125mm), vút nhọn, bay rất khoẻ, đuôi ngắn, chẻ đôi; mỏ ngắn, dẹp, có thể há rất rộng.

< Hang Yến tại cù lao Chàm.

Hàng năm, vào cuối tháng 11 âm lịch, yến bắt đầu làm tổ theo một cách rất độc đáo: yến nhả nước bọt thành những dãi trắng lên những vách đá cheo leo của các hang động trên đảo. Dãi yến mới nhả ra có màu trắng phớt hồng, gặp gió quánh lại, chuyển thành màu trắng đục.

Tổ chim yến thường được gọi là yến sào hay tai yến. Yến đẻ trứng, ấp trứng và nuôi cho đến khi chim con đủ sức tự bay đi kiếm mồi. Tổ yến có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, chiếm từ 36-52% protein và là một nguồn dược liệu rất quý.

Tổ yến giúp tăng sức đề kháng cho cơ thể, bổ khí huyết, tráng dương, ổn định thần kinh, chống lão hoá, làm đẹp nước da và có thể ngăn ngừa, thậm chí chữa được nhiều loại bệnh nan y như lao phổi, hen suyễn, viêm xương...Chính vì vậy, yến sào là loại hàng hoá hiếm quý, đắt giá trên thị trường từ xưa đến nay.

Nhiều nguồn tư liệu cho biết, từ trước thế kỷ 18, người Trung Quốc đã biết đến giá trị của yến sào. Một số nước ở Đông Nam Á, trong đó có người Chàm cũng đã biết khai thác nguồn đặc sản này trên các hang đảo nằm ở vùng biển quốc gia...

Ở Hội An, một ông lão họ Trần tình cờ phát hiện ra tổ yến sau đó tổ chức khai thác và nộp thuế. Vì thế, các chúa Nguyễn (từ thế kỷ 17) đã cho lập “Đội Thanh Châu”, thực chất là giao cho dân làng Thanh Châu (Hội An) khai thác yến sào ở vùng đảo Cù lao Chàm và nộp thuế hàng năm cho nhà nước. Sau này, mở rộng vào các tỉnh Bình Định, Khánh Hòa.

< Thu hoạch yến sao trong hang.

Khai thác yến sào phải leo lên các vách đá cheo leo, hiểm trở, bên dưới là mặt nước biển ăn sâu vào hang sâu, nếu sơ sẩy, người thợ khai thác khó an toàn tính mạng. Ở Cù lao Chàm, chim yến thường làm tổ trong các hang ở Hòn Khô (mẹ), Hòn Lao, Hòn Tai...Việc khai thác yến sào ở Hội An hiện nay do Đội Khai thác Yến, trực thuộc UBND Thị xã phụ trách. Mỗi năm, khai thác 2 kỳ ( vào tháng 4 và tháng 8 dương lịch).

Tổ yến sau khi khai thác, mang về làm sạch bằng cách lấy dao nhọn hoặc nhíp nhặt hết lông, phân chim, rêu và bùn đất. Phải hàng hai chục công nhân làm trong vài ngày. Sau đó phân thành các hạng căn cứ theo kích thước màu sắc, khối lượng gồm: Yến huyết, yến thiên, yến quang, yến bài, yến địa, yến vụn. Giá yến bình quân 3.000USD/kg.

Hàng năm vào ngày 10/3 âm lịch, cư dân và những người làm nghề khai thác yến tổ chức cúng rất linh đình để chuẩn bị bắt tay vào vụ khai thác mới. Công trình chính gồm 2 nếp nhà nối liền thông với nhau, mái lợp ngói âm dương. Nếp thứ nhất hệ vì kèo cấu tạo theo kiểu chồng rường giả thủ. Nếp thứ hai hệ vì kèo cấu tạo theo kiểu khung cụi chính giữa rồi bắt quyết qua 4 mái.

< Cổng vào miếu tổ.

Trên bàn thờ, ngoài các bài vị của những bậc tiền bối khai sáng nghề yến sào là các vị thần liên quan đến sông biển. Trên tường bên hữu có tấm bia đá ghi công đức của các chư phái tộc và ca tụng vẻ núi non kỳ vĩ của Cù Lao xứ. Miếu thờ Tổ nghề Yến cung cấp nhiều thông tin quý về kiểu thức xây cất và nghệ thuật trang trí đậm đà tính dân gian

Vào dịp Giỗ Tổ Hùng Vương (10-3 ÂL), cư dân làng yến Thanh Châu - Hội An tổ chức Lễ giỗ tổ nghề yến tại miếu Tổ nghề ở thôn Bãi Hương - Cù Lao Chàm. Đây là một nghề truyền thống mang đậm dấu ấn sáng tạo của cư dân địa phương, chuyên khai thác sản vật từng được mệnh danh là “vàng trắng xứ Quảng”…

Giỗ Tổ nghề Yến là một lễ lệ dân gian có từ lâu đời nhằm cầu mong biển trời phù hộ và tưởng niệm tri ân các bậc tiền bối đã có công trạng đối với nghề khai thác Yến sào; đồng thời nâng cao niềm tự hào và ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm của vùng biển đảo thân yêu. Tuy nhiên, lễ lệ giỗ tổ nghề Yến từng bị mai mọt khá nhiều qua thời gian và bao biến thiên lịch sử, mới được lưu tâm phục hồi mấy năm gần đây nhưng lại thiếu tính chủ động và ổn định.

Các hoạt động Giỗ Tổ nghề Yến năm nay là sự kiện văn hóa- du lịch quan trọng nằm trong chuỗi chương trình Năm Du lịch quốc gia Quảng Nam- 2006 nhằm giới thiệu và quảng bá một nghề truyền thống đặc trưng của cư dân sông nước Hội An tiếp tục được lưu truyền đến ngày nay, gắn với một đặc sản quý nổi tiếng khắp trong và nài nước; đồng thời góp phần khám phá vẻ đẹp quyến rũ của đất nước, biển trời và con người hải đảo; qua đó góp phần chọn lựa để định hướng cho việc tổ chức các hệ thống lễ hội truyền thống dân gian gắn với phát triển du lịch của Hội An.

Các hoạt động Giỗ Tổ nghề Yến hàng năm thường diễn ra vào các ngày mồng 9 và 10 tháng Ba âm lịch tại xã đảo Tân Hiệp - Cù Lao Chàm, với nhiều hoạt động phong phú: Tế Tổ nghề Yến, Vui hội làng chài ( đua ghe ngang, kéo co bằng thuyền trên biển, hội Bài chòi, trò chơi bịt mắt đập nồi), đêm hội Cù lao (biểu diễn nghệ thuật cổ truyền, giao lưu văn nghệ đất liền- hải đảo- du khách), Chợ ẩm thực món đặc sản Cù Lao Chàm (các đặc sản biển, rau rừng, bánh ít, tổ yến khô, yến chưng hột sen, rượu yến, rượu hải sâm- bào ngư...), tour tham quan thắng cảnh biển đảo- các khu du lịch Cù Lao Chàm, hang Yến sào (hang Tò Vò), làng chài Bãi Hương, xem san hô, các loài hải sản dưới biển bằng thuyền đáy kính và thúng đáy kính khu vực Bãi Nần.

Có thể nói, khác với các nghề mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà mang tính kế thừa truyền thống của cư dân Việt từ đồng bằng Bắc Bộ, nghề khai thác yến sào Hội An hình thành do sự sáng tạo độc lập, phù hợp với môi trường cư trú, điều kiện tự nhiên và tiềm năng khai thác, chinh phục thiên nhiên của người lao động nơi đây. Cù Lao Chàm đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn, bởi ở đây không những có các rạn san hô, bãi biển đẹp, các món ngon như vú nàng, vú xao… mà còn có những di chỉ văn hóa độc đáo. Làng nghề yến, miếu tổ nghề yến là một trong những địa chỉ thu hút sự quan tâm đặc biệt của du khách gần xa.

Dân đảo tin rằng, năm nào lễ tạ diễn ra trong thời tiết trong trẻo, biển yên, sóng lặng, các trò hội rộn rã, đông đảo người tham gia thì năm ấy vụ yến sào được mùa…

Du lịch, GO! - Theo Cyworld.vn, Danviet
(Tiếp theo và hết)
Cồn Hến

< Hình ảnh Cồn Hến nhìn từ thành phố.

Sau khi qua khỏi 2 cây cầu Phú Xuân và cầu Trường Tiền, xuôi về phía dưới không xa là cồn Hến, lớn hơn nhiều so với Dã Viên. Cồn Hến là vùng đất bồi ra giữa sông Hương phía tả hoàng thành, cũng chia sông Hương ra làm hai nhánh. Nhánh phía Đông là ranh giới giữa Vĩ Dạ và cồn Hến, nhánh phía Tây là ranh giới giữa cồn Hến và phường Phú Cát. Theo quan niệm phong thuỷ, nó đựơc xem là Tả Thanh long của Kinh thành Huế.

Trong sách Ô châu cận lục của Dương Văn An, cồn Hến từng được tả là “một cù lao xinh đẹp”. Khởi thuỷ gọi là cồn Soi.

Ngày xưa, hai khe nước giữa cồn phù sa lấp cạn, tôm cá rất nhiều, đêm đêm người đến đây soi, đơm bắt, đèn đuốc sáng cả góc trời, cái tên này có lẽ bắt nguồn do dân sông nước chài lưới sống bằng nghề soi cá tôm ban đêm.  Cái tên Cồn Hến sau này mới được đặt, xuất phát bởi hình dáng của cù lao này nhìn từ trên cao xuống trông “hao hao con hến”. Nhưng có người lại bảo tên gọi ấy là bởi người dân ở đây chuyên làm nghề hến, người ta lấy luôn tên nghề để đặt cho tên đất. Có lẽ điều này đúng hơn.

Thời gian chúa Nguyễn Phúc Khoát (1725- 1738) xây dựng phủ chúa ở Phú Xuân, ông Huỳnh Tương (người xã Diên Đại, Phú Xuân, Phú Vang) đến ở dựng chòi gần đầu múi cồn phía trên ở làm nghề cào hến. Chuyện kể rằng, vợ chồng ông bà họ Huỳnh này nghèo lắm. Người chồng cần mẫn ngày đêm đi đánh bắt cá, vợ ở nhà lo chăm con. Mong kiếm thêm chút thức ăn cho gia đình, người vợ cũng cặm cụi ra bờ sông mò bắt hến. Sau, bắt được nhiều bà đem đi bán bớt. Dân Huế bắt đầu làm quen với món ăn mới, mộc mạc, hiền và rẻ của sông nước quê nhà. Những người phụ nữ khác thấy vậy cũng bắt chước làm theo.

< Nhánh sông nằm giữa Vĩ Dạ và cồn Hến, phía bên kia sông là Cồn Hến. Từ quán cafe Vĩ Dạ Xưa bạn có thể nhìn thấy cồn Hến phái bên kia nhánh sông.

Mãi đến đầu niên hiệu Gia Long (1802-1820), phường Giang Hến ra đời, từ đó đảo nhỏ nổi giữa sông Hương, phía tả hoàng thành này được gọi là xứ (đảo) cồn Hến. Từ mò bắt bằng tay, người ta nghĩ ra cái cào để vừa đỡ vất vả vừa bắt được nhiều hến. Tương truyền, đến đời Thiệu Trị, con hến đã được bán nhiều ở khắp các chợ vùng kinh đô Huế và trở thành món ăn ưa thích của nhiều người. Một đầu bếp đã dâng lên vua món ăn dân dã này. Vua Thiệu Trị ăn thử thấy ngon. Hỏi lai lịch nghề và biết được làm nghề hến hết sức cực nhọc mới ban chỉ dụ nghề hến là “nghề được miễn thuế”.
Cúng tổ nghề hến được tổ chức vào các ngày 24 và 25 tháng 6 Âm lịch hàng năm. Tại cồn Hến hiện vẫn còn lưu giữ ngôi nhà thờ tổ tại Phường GiangHến.


< Cầu Hương Lưu dẫn vào Cồn Hến (nằm ngày đầu chợ Vỹ Dạ, trên đường Nguyễn Sinh Cung).

Vào dịp cúng tổ, nhà thờ được bài trí tôn nghiêm, lễ phẩm, trầm hương nghi ngút. Lễ tục này được tổ chức là do nguyên nhân sau: Vào năm Thành Thái thứ 4 (Nhâm Thìn 1892) ở phường Giang Hến có bà Trần Thị Thẹp đi thuyền ra dũi hến ở vùng sông trước đình Hương Cần (huyện Hương Trà), bị hương lý xã kéo ra bắt, đưa thuyền của bà Thẹp lên bờ đòi chịu nộp thuế phạt. Dân phường Giang Hến hay tin, làm đơn kéo nhau đi kiện, được châu phê: " Thượng từ nguyên đầu, hạ chí hải khẩu" (Nghĩa là: Từ đầu nguồn đến cuối sông biển, ao hồ chịu thuế, sông nước được dùng).

Thắng kiện, phường Giang Hến kết long đình trên thuyền, trang trí cờ lọng đi rước châu phê, xã Hương Cần phải thả bà Thẹp, đưa thuyền của bà Thẹp xuống nước, dân phường Giang Hến rước về tận đình phường làm lễ tạ. Cho rằng sở dĩ làng được kiện là nhờ thần sông phù hộ, cho nên dân làng lấy ngày này làm ngày lễ tế hàng năm. Ngày chánh tế, một vị bô lão đứng chủ tế trước hương án trên một chiếc thuyền gọi là thuyền cầu nghề. Trên hương án có “sắc bằng” tổ nghề vốn vẫn được lưu giữ từ xưa tại nhà thờ họ Huỳnh, dòng họ đã khai sinh nghề hến. Thuyền được cho chạy quanh cồn Hến để thỉnh Tổ, sau đó rước về nhà thờ và hành lễ. Sau khi tế lễ xong, “sắc bằng” tổ nghề lại  được trang trọng hoàn thỉnh về tại nhà thờ họ Huỳnh.

Qua thời gian, từ một ốc đảo nhỏ được đất bồi, cát lấp, cồn Hến ngày nay thành một vùng đất đai cao ráo với diện tích gần 33 ha. Ốc đảo cồn Hến ngày nay trở thành một khu dân cư đông đảo trù phú, nhà cửa, trường học, đền chùa được xây dựng khang trang. Hơn thế, đây còn có nhiều quán cơm hến, chè bắp cồn...vừa nhỏ xinh xắn nấp mình sau những lùm cây xanh, soi mình mặt nước sông Hương.

Ngoài món cơm hến, thì cồn Hến còn món chè bắp cũng nổi danh không kém, được làm từ bắp Cồn được trồng ở bãi bồi màu mỡ ven sông Hương. Chè bắp là món hấp dẫn nhất, cao sang nhất trong tất cả các món ăn chế biến từ bắp Cồn. Chè bắp thơm ngọt, không phải cái ngọt của đường mà là cái ngọt riêng của sữa bắp non. Muốn nấu chè bắp phải biết chọn hạt bắp non vừa ngậm sữa, bóc hết bẹ, bỏ hết râu, bỏ hạt sâu. Xong dùng dao bào thái theo chiều dọc quả bắp. Bào bắp xong, cùi bắp cho vào nồi luộc để lấy nước. Nước luộc cùi bắp lọc thật trong rồi thêm nước đun sôi để nấu chè. Khi nước sôi cho đường (vì nước luộc cùi bắp đã ngọt nên chỉ cần cho ít đường vừa đủ độ ngọt) và ít bột đao vào để cho chè sánh, rồi đổ bắp thái vào, khuấy đều tay, chè sôi lại là được. Chè bắp có vị ngọt thanh tao, mùi thơm mát được ưa chuộng nhất trong các loại chè ở Huế.

Nếu có dịp đến Huế, xin mời bạn đừng quên ra nơi này để thưởng thức mùi thơm béo của những bát nước hến trắng đục được lấy từ dòng Hương và vị ngọt của những bát chè bắp hôi hổi nóng được trồng từ vùng đất nổi giữa lòng sông. Nhìn bao quát, vùng cồn Hến như một hòn đảo, tô điểm thêm cho nét tươi đẹp của dòng Hương hiền hòa, thơ mộng.

Bài viết này đã kết thúc chuyến xuôi dòng Hương Giang, đưa các bạn từ  từ Ngã ba Bằng Lẵng qua 7 điểm dừng cho đến Cồn Hến. Nơi đây gần như cũng là điểm dừng của các bến thuyền rồng du lịch dọc con sông hương thơ mộng. Một ngày nào đó, các bạn có dịp đến Huế, lênh đênh trên một chiếc thuyền rồng du lịch xuôi dòng Hương từ lăng Minh mạng trở về thành phố, chắc hẳn ràng các bạn sẽ cảm thấy thú vị hơn rất nhiều khi vừa được ngắm khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp vừa biết được tường tận những huyền thoại, những câu chuyện kỳ thú xoay quanh nó từ bao đời nay.

Nguyễn Văn Liêm

B1 - Xuôi dòng Hương Giang
B2 - Xuôi dòng Hương Giang
B3 - Xuôi dòng Hương Giang
B4 - Xuôi dòng Hương Giang

Du lịch, GO! - Theo web Huế Thương
ừng mong được tiếp đón vồn vã, ân cần ở đây". Những người dân Nha Trang nói trước như vậy khi chỉ khách lạ đến quán bánh canh Bà Thừa trên đường Yersin.

Quán trông có vẻ lụp xụp, cũng chẳng tỏ vẻ ân cần với khách, ấy vậy mà lúc nào cũng đông khách.
Mà quả đúng như vậy thật, quán quá đông, nên chủ quán, cũng như những người phụ bán có vẻ như không còn hơi đâu mà để tâm đến chuyện chăm sóc, mời chào khách hàng. Có những lúc khách đứng lèn trong, chặt ngoài, người bán cũng cứ dửng dưng để cho khách tự chờ có chỗ trống mà chen vào. Khách sang, khách hèn gì cũng thế thôi!

Mà quán cũng có vẻ quy củ lắm. Cứ thử đi hai người, thấy bàn trống mà nhảy vào giành nguyên một chiếc để ngồi mà xem. Thế nào cũng được cô bán hàng nghiêm nghị nhắc: Ngồi qua một bên đi, để chỗ cho người khác với.
Tô bánh canh cá Nha Trang, cụ thể hơn là bánh canh chả cá bán ở quán bà Thừa, giản đơn lắm lắm. Tô nước dùng trong veo, những sợi bánh canh nhỏ bằng nửa đầu đũa trắng màu bột gạo, vài miếng cá dằm nhỏ trắng màu cá tươi luộc chín. Điểm lên trên là hành hoa xắt thật nhuyễn. Thế thôi!

Chỉ thế, nhưng những người đã ăn qua món bánh canh cá qua nhiều quán ở Nha Trang nhận xét, hiếm có nơi nào nấu được nước lèo thật trong mà không vương mùi cá biển như ở quán bà Thừa. Trong mà lại thật ngọt mới khó.

Có người tỏ vẻ sành sỏi phân tích, để nấu được thứ nước lèo ngọt như vậy, trong như vậy, người ta phải chọn cá thật tươi, rồi mới luộc lên lấy vị ngọt của chúng, cá càng tươi, càng nhiều, càng ngọt mà không cần nhiều bột nêm, bột ngọt. Sợi bánh canh Nha Trang khác bánh canh ở nhiều nơi, chúng nhỏ hơn và có lẽ được làm từ toàn bột gạo nên không dai như bánh canh có pha thêm bột lọc ở Sài Gòn. Khi ăn, chỉ ép lưỡi chặt một chút là chúng tan ra, chứ không cần phải nhai.

Bánh canh Bà Thừa đựng trong chiếc tô độ chừng chỉ lớn gấp rưỡi cái chén ăn cơm, nên hầu hết người ăn đều ăn một lần hai tô mới vừa bụng. Được cái, quán bán với giá hết sức bình dân, hai tô, chỉ có bốn ngàn.

Có một thứ bán kèm với bánh canh mà ai vào ăn cũng có kêu, đó là chả cá chiên, chả cá hấp, giá 1.000 đồng/đĩa. Chả được xắt thành từng thỏi hình thoi nhỏ bằng đầu ngón tay cái, một đĩa chỉ có mấy miếng, bên trên cho thật nhiều hành tây. Chả chiên cũng thế, mà chả hấp cũng vậy, miếng nào cũng sừn sực, ngọt lắm! Khi kêu chả cá, ai không nhắc chừng thì chắc chắn sẽ nhận được một đĩa chả đỏ choé ớt tươi xay. Mà đúng điệu, bánh canh cá, chả cá phải ăn với ớt tươi xay, thật nhiều. Vừa ăn vừa há miệng hít hà, vừa đổ mồ hôi mẹ, mồ hôi con mới ngon.

Tiếc là đến ăn quán bà Thừa nhiều lần, nhưng chưa lần nào được ăn bánh canh ruột cá. Mấy người khách quen của quán khuyên: Đến thật sớm, ăn thử bánh canh ruột cá. Ngon lắm!

Quán càng ngày càng đông, đặc biệt là khách du lịch biết tiếng tìm đến. Thế mà người ta thấy quán Bà Thừa không nâng cấp. Bàn ghế cứ lúp xúp, mỗi bộ một kiểu. Bà cũng không tăng giá mà cũng không nấu nhiều hơn để bán. Ngày nào cũng vậy, bà chỉ bán có chừng ấy bánh, chừng ấy cá cho chừng ấy khách. Hết sớm thì nghỉ sớm. Lại nghỉ cả nguyên ngày chủ nhật nữa chứ!

Du lịch, GO! - Theo TravelANZ, internet
Vịnh Nha Trang rộng khoảng 507 km², với hàng chục hòn đảo lớn nhỏ tạo nên một quần thể du lịch hấp dẫn, đã được tôn vinh là một trong những vịnh đẹp trên thế giới.

Nhiều công ty lữ hành đã thiết kế các tour đưa du khách tham quan vịnh Nha Trang, nhưng tự thiết kế cho riêng mình một chuyến đi trên vịnh cũng mang lại cho bạn nhiều trải nghiệm thú vị.

Tại cảng Cầu Đá, du khách có thể liên hệ với tàu của ngư dân để xin đi cùng ra đảo. Những chiếc tàu này chuyên chở người dân trên đảo vào đất liền buôn bán hải sản, hoặc chở các loại hàng hóa từ đất liền ra đảo.

Chi phí cho một lần đi tàu chỉ vài chục ngàn đồng. Theo hành trình, du khách sẽ lênh đênh trên biển suốt 2 tiếng, đi ngang qua nhiều đảo như Hòn Tre, Hòn Mun, Hòn Một...

Sau khi rời bến khoảng 15 phút, từ ngoài khơi, du khách có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp khá hiện đại của thành phố Nha Trang, những hôm trời nhiều mây, thành phố ẩn hiện như một bức tranh thủy mặc.

Trên đường đi, du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp độc đáo của những khối đá lớn với những hình thù kỳ dị hiếm nơi nào có được. Độc đáo nhất vẫn là những mỏm đá màu đen tuyền như gỗ mun, nhấp nhô giữa biển tại đảo Hòn Mun. Nhiều vách đá lớn dựng đứng tạo thành những hang động sâu hun hút đầy vẻ huyền bí. Giữa mênh mông sóng nước, bầu trời xanh như ôm lấy những núi đá giữa biển khơi. Sự hòa quyện giữa mây trời, núi non và biển xanh tạo nên một bức tranh thiên nhiên thơ mộng. Du khách cũng có thể nhìn thấy những khu vực khai thác yến trên đảo, với những ngôi nhà nhỏ nằm cheo leo trên vách núi.

Tàu thường cập vào các bến Trí Nguyên, Vũng Ngán, Hòn Một, Bích Đầm. Nếu du khách thấy nơi nào “quyến rũ” thì có thể lên đảo nán lại tham quan, tìm hiểu cuộc sống của người dân trên đảo, sáng hôm sau lại lên tàu vào đất liền. Du khách cũng có thể theo thuyền của ngư dân hay đi bộ vượt núi khoảng 7 km để từ khóm đảo Bích Đầm qua khóm đảo Đầm Báy. Hai khóm đảo này đều nằm trên đảo Hòn Tre, nhưng Đầm Báy còn hoang sơ, dân cư thưa thớt.

Đường vào Đầm Báy cảnh đẹp mê hồn, hàng dừa xanh uốn quanh ôm lấy đảo, biển xanh ngắt, hiền hòa. Người dân trên đảo rất mến khách, họ sẵn sàng cho khách ở lại nhà qua đêm.  Nhiều nhóm bạn đã chọn Đầm Báy là điểm đến để tận hưởng những giây phút thú vị trong kỳ nghỉ của mình. Đêm trên đảo, ngồi bên nhau quanh đống lửa hồng trên bãi biển, nướng vài chú cá rồi cùng nhau thưởng thức, đàn hát dưới đêm trăng sáng thì còn gì bằng.

Một chuyến đi ít tốn kém, nhưng mang lại nhiều cảm xúc thú vị, có lẽ bất kỳ ai có máu đi “bụi” cũng muốn được trải nghiệm.

Du lịch, GO! - Theo Thanhnien, internet
Cây me cổ thụ hơn 200 năm tuổi ở Bảo tàng Quang Trung (Bình Định) vừa được Hội Bảo vệ thiên nhiên - môi trường Việt Nam (VACNE) công nhận là cây di sản Việt Nam. Bảo tàng Quang Trung nằm ở khúc đầu sông Kôn, được xây dựng ngay trên nền vườn nhà cũ của ba thủ lĩnh phong trào Tây Sơn.

< Bóng mát cây me di sản rợp cả một góc sân bảo tàng.

Tương truyền cách đây hơn 200 năm, ông Hồ Phi Phúc (thân phụ của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ) đã trồng cây me này. Hiện nay cây vẫn xanh tốt, xum xuê và ra trái đều mỗi năm. Cây cao 24m, đường kính thân 1,2m, tán lá che phủ hơn 600m².

< Hào khí Tây Sơn tỏa núi sông.

Ngoài ra, Bảo tàng còn trưng bày khoảng trên 11.000 hiện vật có liên quan đến phong trào khởi nghĩa Tây Sơn và vị anh hùng Quang Trung - Nguyễn Huệ, và nơi đây có điện thờ Tây Sơn tam kiệt Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và các văn thần võ tướng của nhà Tây Sơn.

< Ngày lễ rất đông du khách đến thăm viếng.

Hàng ngày, bảo tàng luôn có du khách trong và ngoài nước đến thăm, nhưng đông nhất là vào ngày mùng 5 tháng Giêng hàng năm, kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa thì Bảo tàng vui như hội, du khách đến thăm, dâng hương Hoàng đế Quang Trung, các văn thần võ tướng của nhà Tây Sơn.

< Điện thờ Tây Sơn (Quang Trung, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ) và văn thần võ tướng.

< Cây me di sản nhìn từ điện thờ.

Ngoài dâng hương hoa, du khách như được trở về quá khứ với hiện vật, kỷ niệm có từ thời ba anh em nhà Tây Sơn đó là cây me, được uống ngụm nước mát từ giếng nước đá ong, rồi thưởng thức tiếng trống trận và các bài võ hào hùng làm cho du khách không khỏi bồi hồi nhớ về nghĩa quân Tây Sơn thần tốc và người anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ.

< Kể chuyện nhà Tây Sơn dưới gốc me xưa.

< Di tích giếng nước bằng đá ong bên cây me di sản.

“Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ".
(Chiếu xuất quân)

< Nghe tiếng trống trận mà nhớ Hào khí xưa...

Du lịch, GO! - Theo Baoanh DatMui, Zing

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống