Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Sunday, 22 April 2012

Bài 9: Cửa biển Sông Đốc.

Cách đây 4 năm, nhân sự kiện 50 năm tập kết ra Bắc tại vàm sông Ông Đốc, tôi được ông Tư Hà, người sống ở đây trên 74 năm, nhà ông ở số 99, Tổ 6, Khu vực 1 (Sông Đốc), giới thiệu rất ngọn ngành về quá trình hình thành và tiềm năng phát triển cửa biển Ông Đốc này.

< Một góc thị trấn Sông Đốc, Cà Mau.

SÔNG ĐỐC XƯA

Vâng! chỉ qua chung trà, chúng ta có thể hình dung được một Sông Đốc thật hùng vĩ. Sông Đốc có tự bao giờ, không ai còn nhớ rõ, nhưng theo ông Hà kể, thì xưa kia, ở đây là một khu rừng rậm, “Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”.

Cửa biển Sông Đốc ngày ấy chỉ có vài nóc gia từ miền ngoài đến đây khai khẩn như ông Ấp Mao, Mười Hộ... và nghề đóng đáy đầu tiên phải kể đến anh em ông Ba Lai, Bảy Đủ. Sông Đốc xưa gọi là Cửa Rồng, bao gồm Long hình và Ngư hình (Long hình là cửa uốn khúc đưa ra ngoài nhưng vẫn giữ được lòng sông, còn Ngư hình giống các con sông khác là ngay thẳng).

Năm 1946, cửa Sông Đốc có chiều ngang khoảng 100m, nhằm mục đích không cho tàu của Pháp vào sông, Ban Phá hoại đã dùng tàu Thái Anh lôi 2 chiếc ghe chài, mỗi chiếc có trọng tải  lớn về cửa Sông Đốc, sau đó dùng đá cát dồn vào hai chiếc ghe chài, rồi nhận xuống dòng sông ngăn không cho tàu giặc ra vào. Hai chiếc chài làm ngăn dòng chảy dẫn đến sóng to gió lớn đánh tạt vào bờ gây sạt lở, cho nên sau này cửa Sông Đốc lớn rộng ra.

Khi lính Mỹ xâm lược, Sông Đốc đổi tên thành sông Khoa Giang. Nhưng chẳng ai thèm dùng cái tên Khoa Giang, vì nó sinh ra từ chính những kẻ xâm lược ngoại bang đặt cho. Cũng theo ông Hà, Sông Đốc được chia làm hai bờ, bờ nam và bờ bắc. So với bờ bắc, bờ nam thuận tiện hơn cho việc ra vào đánh bắt. Cho nên khi khẩn hoang, bờ nam được người dân ở trước và hình thành một xóm nhỏ khoảng 10 nóc gia, dần dà dân tứ phương đến càng nhiều, bờ nam trở nên đông đúc. Ông Hà cho biết, có được cái Xóm Cửa ngày trước cũng như Sông Đốc ngày nay là nhờ vào những người đánh bắt hải sản - họ có công khai sáng ra Sông Đốc ngày nay.

SÔNG ĐỐC BÂY GIỜ

Gọi Sông Đốc là mảnh đất hội của người dân biển, quả thật không sai, vì nơi đây có hàng ngàn ngư dân sống nhờ vào nghề biển. Nếu so sánh với sáu cửa lớn như: Lình Quỳnh, Cửa Lớn, Rạch Giá, Đầm Cùng, Bảy Háp, Ông Trang, thì Sông Đốc là cửa biển lý tưởng nhất. Khi thủy triều xuống, độ sâu trên 10m, thuận lợi cho tàu thuyền ra vào. Sông Đốc có hai nghề chính: đánh bắt hải sản và dịch vụ thương mại. Ngày nay, hai nghề này vẫn tồn tại và làm nòng cốt cho Sông Đốc phát triển.

Theo ông Nguyễn Tuấn, Chủ tịch UBND thị trấn Sông Đốc: Sông Đốc đã thông qua dự án quy hoạch thị xã biển đầu tiên sầm uất vào loại bậc nhất trong khu vực. Với tổng diện tích 2.824ha, với hơn 30 ngàn khẩu, người dân sống chủ yếu bằng nghề khai thác thủy sản, công thương nghiệp, dịch vụ. Thu nhập đầu người trung bình hằng năm trên 10 triệu đồng. Sông Đốc có 998 phương tiện khai thác thủy sản, trong đó tàu có công suất 90CV trở lên chiếm 70%. Theo ông Tuấn, hiện nay Đảng bộ và nhân dân thị trấn Sông Đốc đang toàn tâm toàn lực tạo mọi điều kiện cho nghề cá phát triển. Bởi nghề kéo theo hàng trăm nghề khác đi lên, như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ mua bán... Hiện, có hơn 1.000 cơ sở kinh doanh buôn bán các mặt hàng như: ngư cụ, nước đá, xăng dầu, kim khí điện máy... và nhiều nhà máy có quy mô lớn đóng trên địa bàn như: Xí nghiệp chế biến thủy sản, Nhà máy bột cá... mặt hàng chế biến từ các công ty đã có mặt trên thị trường thế giới, hằng năm thu về lượng ngoại tệ khá cao, giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động.

...VÀ TIỀM NĂNG DU LỊCH SÔNG ĐỐC

Sông Đốc là một phố biển đẹp. Một bên là sông Ông Đốc và một bên là biển Tây, thuộc huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Dòng sông Ông Đốc sâu, rộng, không chỉ tạo thuận lợi cho giao thông vận tải, du lịch, mà còn là một trong những bến cảng có tàu thuyền ra vào đông nhất ở ĐBSCL.

Được thiên nhiên ưu đãi, Sông Đốc nằm giữa những vùng kế cận: Hòn Đá Bạc, cửa biển Cái Đôi Vàm và ngoài khơi là đảo Hòn Chuối. Chính vị trí này đã làm nổi rõ vai trò của Sông Đốc trong khu vực, đó là nơi đón tiếp, phục vụ, trung chuyển hàng hóa, khách du lịch... Không chỉ là tâm điểm của 3 địa điểm trên, Sông Đốc còn có nhiều làng nghề biển như: làng nghề đan lưới, làng nghề làm cá khô và nhiều di tích chùa chiền... Du khách khó có thể quên  Sông Đốc khi đã đến thăm thị trấn miền biển giàu tiềm năng này.

Về văn hóa tín ngưỡng, Sông Đốc có lễ hội Nghinh Ông, còn gọi là lễ rước “Đại tướng quân Nam Hải”, được tổ chức vào ngày rằm tháng hai hằng năm. Nghề đi biển truyền thống lâu đời đã tạo nên nhiều trầm tích văn hóa nơi vùng đất đầu sóng ngọn gió này. Theo truyền thuyết, ông Nam Hải thường xuyên cứu người đi biển gặp nạn. Để tỏ lòng tôn kính, năm 1925, các bậc tiền hiền đã thỉnh xác ông, lập điện thờ. Sau nhiều lần dời đổi, lăng ông Nam Hải tọa lạc ổn định tại Khóm 2, thị trấn Sông Đốc từ hơn 40 năm nay. Về du lịch địa lý, Sông đốc có đảo Hòn Chuối, cách đất liền hơn 16 hải lý, có một chi tiết khá thú vị của người dân Hòn Chuối, đó là sống theo mùa. Gió nồm thì người dân di cư qua bãi bắc, còn gió bắc thì trở ngược lại bãi nồm. Hòn Chuối không rộng lắm, nhưng có chiến lược quan trọng trong lĩnh vực quốc phòng và cũng là bình phong chắn sóng cho người dân Sông Đốc.

Hưởng ứng Năm Du lịch quốc gia Mekong - Cần Thơ 2008, tỉnh Cà Mau đã lấy lễ hội Nghinh Ông ở Sông Đốc làm sự kiện du lịch của tỉnh, tạo điều kiện để Sông Đốc trở thành điểm đến hấp dẫn của tỉnh Cà Mau.

Cách đây vừa tròn nửa thế kỷ, sự kiện tập kết 200 ngày ở khu vực Cà Mau và chuyến tàu cuối cùng tại cửa sông Ông Đốc tiễn đưa những người con thân thương của Nam Bộ tập kết ra Bắc theo tinh thần của Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, là một mốc son lịch sử quan trong, đánh dấu sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm của dân tộc ta nói chung, của nhân dân Cà Mau nói riêng. Đồng thời, sự kiện trên cũng góp phần minh chứng cho đường lối đúng đắn của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Vì thế, trong 200 ngày tập kết đã mang yếu tố chiến lược của Đảng ta là: “Giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc”. Ý chí đó được hun đúc mãi đối với những người đi tập kết ra Bắc và những người ở lại miền Nam suốt 21 năm chống Mỹ cứu nước, giành thắng lợi vẻ vang vào ngày 30.4.1975 lịch sử... (Võ Thanh Bình – Nguyên UVTW Đảng, Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau).

Bài 10: Cửa biển Gành Hào

Sông Gành Hào chảy giáp ranh giữa hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau, rồi đổ ra biển Đông tại thị trấn Gành Hào. Dòng sông Gành Hào thơ mộng, gắn bó bao đời với người dân vùng cực Nam Tổ quốc đã đi vào thơ ca với những làn điệu “Xề u xế u liu phạn...” tha thiết lòng người. Con sông có chiều dài 55km, tại cửa Gành Hào sâu 19m và rộng 300m. Cửa biển Gành Hào ngày nay sầm uất, với một bên là thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải, Bạc Liêu và một bên là xã Tân Thuận, Đầm Dơi, Cà Mau.

Cửa biển Gành Hào - giao nhau giữa hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau. Bên này sông là Tân Thuận - trước kia thuộc khu vực năm của thị trấn Gành Hào, năm 1992, địa bàn được giao về cho huyện Đầm Dơi quản lý. Nhờ được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát nên đời sống bà con nơi đây đã có nhiều đổi thay khởi sắc. Đặc biệt, ấp Lưu Hòa Thanh, xã Tân Thuận còn là địa phương nổi tiếng với nghề làm muối truyền thống. Người dân miền biển không chỉ khai thác các loại hải sản quý mà còn tận dụng nguồn nước biển vô tận để cung cấp vị mặn cho đời. Muối chỉ làm vào mùa nắng gắt, bắt đầu từ tháng 11 cho tới tháng 2, tháng 3 năm sau. Với 165ha diện tích ruộng muối, năng suất 70 tấn/ha đã nuôi sống khoảng 65 hộ dân ven biển Gành Hào. Những vuông muối được cải tạo công phu, nền thật dẽ và lán bóng để đón luồng nước mặn từ biển đổ vào, rồi nhờ cái nắng chói chang của đất trời kết tạo nên những hạt muối trắng tinh. Chất mặn của muối - vị mặn của giọt mồ hôi làm cho cuộc sống con người trở nên đậm đà hơn.

Và bên kia sông là thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải, Bạc Liêu, phát triển mạnh nhờ cảng cá Gành Hào - công trình có ý nghĩa nhiều mặt, tạo hiệu quả rất lớn cho các chủ thu mua và ngư dân khai thác biển. Tuy chưa thể so với cửa biển Sông Đốc, nhưng sự sầm uất ở Gành Hào cũng đã được khẳng định. Những người dân bao đời gắn bó với cửa biển này luôn tự hào trước sự thay da đổi thịt của vùng rừng biển hoang sơ “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”. Nhìn thành quả phát triển ở Gành Hào ngày nay, bà Trần Tuyết Nga - người gắn bó lâu năm với vùng đất này, kể lại: “Trước kia, xung quanh đây chỉ toàn là rừng đước, nhà dân thưa thớt, từ ngã ba Vàm Xáng đến cửa biển Gành Hào chỉ chừng vài chục hộ dân sinh sống. Bà con từ các nơi đổ về sống chủ yếu bằng nghề đáy sông, với khoảng 17 hàng đáy, chạy dài từ cửa biển tới Hộ Phòng”.

Lợi thế của Gành Hào là đã được đầu tư xây dựng cảng cá - động lực lớn cho phát triển kinh tế biển. Bởi thế, Gành Hào cũng sở hữu một lực lượng tàu thuyền khá hùng hậu, tạo nên sự sung túc cần có của một vùng cửa biển. Như bao vùng cửa biển khác, ngư dân ở Gành Hào cũng tín ngưỡng thờ cá Ông. Lăng Ông ở Gành Hào hiện nay nằm gần đường vào thị trấn và đường ra đê biển. Tại miếu thờ hiện nay có tới 4 cốt (sọ đầu) cá Ông, 9 xương sườn và khoảng mười đốt xương sống. Theo lời những người sống lâu năm nơi đây, những bộ xương này chí ít cũng có khoảng 100 năm tuổi. Lễ hội nghinh Ông ở Gành Hào được tổ chức vào ngày 9, 10, 11 tháng 3 â.l hằng năm.

Ngoài ra, ở Gành Hào còn có khu vực bờ kè thông thoáng, phân cách giữa một bên là cuộc sống hiền hòa với biển cả bao la, ồ ạt những con sóng dập thẳng vào bờ như đe dọa, như mời gọi con người tìm đến sự giàu có của nó. Đồng thời, nằm ở ranh giới hai tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, cửa biển Gành Hào còn là ranh giới xã hội, tại đây, mọi người có thể tạm quên sự chen chút, bận rộn nơi thị trấn sầm uất khi trở về bên này sông - đến với sự yên bình của quê biển Tân Thuận.

Vị trí cửa biển Gành Hào thuộc hai tỉnh khác nhau nên sự đầu tư phát triển còn chưa đồng bộ và tương xứng. Thế nhưng, cửa biển Gành Hào vẫn mang những nét đặc trưng riêng làm say lòng du khách. Dòng sông Gành Hào thơ mộng, dịu dàng “như dải tơ vàng” mãi “xuôi về biển Đông”, để cửa Gành Hào tiếp tục vươn mình ra biển lớn.

A1 - Những cửa biển ở Cà Mau
A2 - Những cửa biển ở Cà Mau
A3 - Những cửa biển ở Cà Mau
A4 - Những cửa biển ở Cà Mau
A5 - Những cửa biển ở Cà Mau
A6 - Những cửa biển ở Cà Mau
A7 - Những cửa biển ở Cà Mau - kỳ cuối

Du lịch, GO! - Theo báo Ảnh Đất Mũi
Bài 7: Cửa Bồ Đề

Cửa Bồ Đề nằm ở ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Năm Căn và Ngọc Hiển, là đầu nối sông Cửa Lớn (Đại Nam Giang) với vùng biển Đông. Cửa biển thông thoáng, thuận lợi giao thông đường biển và đường thủy nội địa, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương và khu vực.

< Đóng đáy trên cửa Bồ Đề.

Trong chiến tranh chống Mỹ, cửa Bồ Đề từng là “cửa tử” của các “Tiểu pháo hạm Hoa Kỳ” trên sông Cửa Lớn. Trong năm 1970, du kích xã Tam Giang đã nhiều lần đánh thắng pháo hạm địch ra vào cửa Bồ Đề tại vùng Lung Đước và vàm rạch Chủ Mưu. Cửa biển Bồ Đề ngày nay thuộc xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, là một trong những cửa biển lớn ở Cà Mau.

Đến cửa Bồ Đề, ấn tượng trước hết là sự thông thoáng và mênh mông, với độ rộng khoảng 500m và sâu trên 15m. Cách cửa biển không xa là Chợ Thủ, khu sầm uất nhất của xã Tam Giang Tây, nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán và kinh doanh nghề biển. Đồng thời, cũng là nơi neo đậu an toàn cho các phương tiện sau những chuyến đi biển.

< Hải đăng hướng dẫn tàu thuyền đi biển.

“Lưới cá chét” và “lưới cá lẹp” là hai dự án mới của ngư dân ở cửa Bồ Đề, nhằm chuyển hướng đánh bắt phù hợp với tình hình địa phương và cho thu nhập cao.

Hiện ở cửa biển có nhiều hộ ăn nên làm ra từ nghề lưới cá này. Đặc biệt, nhờ cửa biển sâu và rộng nên ở Bồ Đề có hình thức đánh bắt độc đáo, trông lạ mắt. Từ cửa biển nhìn vào, xa xa là những hàng đáy bè giăng ngang giữa dòng nước chảy, không chỉ là nguồn sống của nhiều ngư dân địa phương, mà còn tạo nên nét hấp dẫn riêng cho cửa Bồ Đề.

< Chị em phụ nữ là hậu cần đắc lực cho việc khai thác biển.

Tuy nhiên, cửa biển này còn có vẻ “tĩnh lặng”, bởi lượng tàu thuyền khai thác cũng như các dịch vụ nghề biển ở Bồ Đề chưa tương xứng với tiềm năng nơi đây. Toàn xã chỉ có trên dưới 115 phương tiện khai thác, 3 vựa thu mua cá của tư nhân; dịch vụ nước đá, xăng dầu cũng chưa đáp ứng nhu cầu. Ông Quách Văn Lợi, ngư dân địa phương, cho biết: “Bồ Đề là một trong những cửa biển lớn, nhiều tiềm năng, nhưng từ trước tới nay kinh tế biển vẫn chưa có nhiều tiến triển. Các vựa ở đây chủ yếu mua cá lớn, nhiều khi còn mua chịu”.


< Hầm than là một trong những nghề lâu đời nhất ở cửa biển Bồ Đề.

Thiếu vốn, ngư dân địa phương không thể phát triển sản xuất; dịch vụ hậu cần nghề cá yếu, cửa biển cũng không thể thu hút tàu thuyền các nơi đến khai thác trao đổi. Vì thế, cửa Bồ Đề vốn rộng càng trở nên “mênh mông” hơn. Cửa biển Bồ Đề cần được phát triển, khai thác tiềm năng để không chỉ phục vụ tốt nhu cấu kinh tế biển ở địa phương, mà còn trở thành cửa khẩu tốt cho việc trao đổi hàng hóa ở cảng Năm Căn trong tương lai.

Bài 8: Vàm Lũng ngày ấy – bây giờ

Cửa biển Vàm Lũng thuộc ấp Dinh Hạng, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển - cách cửa biển Rạch Gốc 18km về hướng đông-bắc. Nhắc tới Vàm Lũng, người ta lại nhớ về chiến công thầm lặng của các chiến sĩ cách mạng trên những con tàu “không số”, vượt biển Đông chi viện cho miền Nam. Nhờ địa bàn hiểm trở với những cánh rừng phòng hộ dày đặc ven biển và nhiều kênh rạch chằng chịt, Vàm Lũng đã bảo vệ an toàn cho chiến sĩ cách mạng và những con tàu trong suốt 10 năm đạn bom ác liệt.

Bến cuối cùng của đường Hồ Chí Minh trên biển

Với vị trí là bến cuối cùng của đường Hồ Chí Minh trên biển, Vàm Lũng đã làm tròn sứ mệnh lịch sử, bảo vệ an toàn cho chiến sĩ và những con tàu trong 10 năm chống Mỹ. Địa danh Vàm Lũng còn gắn với tên tuổi người anh hùng Bông Văn Dĩa, người chọn quê mình làm bãi tiếp nhận vũ khí bí mật, rồi cùng các đồng chí trong Ðoàn 962 đưa những chiếc thuyền buồm, thuyền máy vượt biển ra miền Bắc, mở đường Hồ Chí Minh trên biển về tận mũi Cà Mau.

< Ngày nay, rừng lại tiếp tục phục vụ đời sống nhân dân.

Nơi đây, ngày 16.10.1962, chiếc tàu đầu tiên “Phương Đông I” do thuyền trưởng Lê Văn Một và chính trị viên Bông Văn Dĩa chở theo 35 tấn vũ khí từ miền Bắc về cập bến an toàn, đã khai thông con đường vận tải chiến lược trên biển Đông - đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Chiến tích ấy đã đi vào lịch sử, mở ra một nét mới, độc đáo, sáng tạo trong chiến tranh chống Mỹ của quân và dân ta. Trong 10 năm (1962 - 1972), đã có 77 chuyến tàu cặp bến thành công, cung cấp hàng ngàn tấn vũ khí, đạn dược phục vụ cho chiến trường miền Nam. Đồng thời, còn ghi dấu, chứng kiến những chiến công hiển hách, vang dội của quân, dân ta và cán bộ, chiến sĩ Đoàn 125 Hải quân và Đoàn 962 anh hùng, góp phần làm nên Đại thắng lịch sử mùa Xuân 1975, thống nhất đất nước.

Vàm Lũng ngày đổi mới

< Những ghe lưới cá của ngư phủ, hằng ngày vẫn ra vào cửa Vàm Lũng.

Chiến tranh đã lùi về quá khứ, Vàm Lũng ngày nay “thay da đổi thịt”, đời sống người dân ngày càng sung túc. Sống trong hòa bình, no ấm, người dân Tân Ân vẫn mãi tự hào về một quá khứ hào hùng. Người Tân Ân có cách ví von rất hay: “Vàm Lũng song song Kiến Vàng, như hé miệng cười tươi đón chào những chuyến tàu từ Bắc vào Nam. Và những con rạch Câu Lầu, Xẻo Lở, Nhà Ở, Xẻo Đôi, Giáp Ranh, Bào Lớn, Trầm Rộng, Xẻo Già... như hai bàn tay ôm chặt những con tàu... giống như đôi tay của người dân Tân Ân ôm ấp, bảo vệ, tròn nghĩa, tròn chung”. Và những cây mắm, cây đước ngày nào từng che chở cho những con tàu vẫn tiếp tục vươn mình thẳng đứng như khẳng định, thế hệ hôm nay sẽ vẫn sống mãnh liệt, kiên cường như cha anh thời khói lửa.

< Con gái Anh hùng Bông Văn Dĩa - bà Bông Thị Ưa kể lại kỷ niệm với từng di vật của cha mình, phần mộ Anh hùng Bông Văn Dĩa luôn được chăm sóc cẩn thận.

Ngày nay, về lại Vàm Lũng để được tận mắt nhìn những cánh rừng, những con rạch vốn hiền hòa nhưng chứa đầy kỳ tích; để nghe lại những huyền thoại về đất, về người nơi tận cùng Tổ quốc. Để cảm nhận niềm tự hào của người dân nơi đây qua những câu chuyện kể về những con tàu “không số” và bến cảng “không tên”. Tin rằng, thế hệ hôm nay sẽ giữ cho những chiến tích ở Vàm Lũng “là quá khứ nhưng không là dĩ vãng, là huyền thoại nhưng không là cổ tích”.

A1 - Những cửa biển ở Cà Mau
A2 - Những cửa biển ở Cà Mau
A3 - Những cửa biển ở Cà Mau
A4 - Những cửa biển ở Cà Mau

A5 - Những cửa biển ở Cà Mau
A6 - Những cửa biển ở Cà Mau
A7 - Những cửa biển ở Cà Mau - kỳ cuối

Du lịch, GO! - Theo báo Ảnh Đất Mũi
Không chỉ được biết đến với địa danh biển Ba Động hay ao Om… vùng đất này còn ghi dấu với hơn 140 ngôi chùa theo kiến trúc Khmer cổ, trong đó nổi bật là các chùa Nodol, chùa Hang và chùa Âng.

Chùa Nodol

Chùa Nodol hay còn gọi chùa Cò là một ngôi chùa Khmer cổ và lớn thuộc ấp Giồng Lớn, xã Đại An, huyện Trà Cú, cách thị xã Trà Vinh khoảng 40 km về phía nam.

Chùa nằm trên diện tích gần 3 ha với hàng loạt các công trình như chính điện, tháp đựng cốt, nhà tăng, nhà hội…

Khu vực chính điện với những mái uốn cong theo hình đuôi rồng, có những đỉnh tháp nhọn hình ngọn núi Xôme và những hình tượng quen thuộc như Riehu, thần 4 mặt Mohabrom, chim thần Kâyno, Mahaknốt.... Một số tài liệu nhận định không ai biết chính xác năm xây dựng chùa, một số tài liệu khác cho rằng chùa được xây vào năm 1677.

Người dân và du khách quen gọi chùa Nodol là chùa Cò vì hơn 100 năm nay xung quanh chùa, từ chánh điện đến các khu sinh hoạt, ăn uống của các nhà sư là nơi cư ngụ của hàng trăm chủng loại cò như cò trắng, cò quắm, cò mỏ vàng, cò mỏ đen, cò mỏ trắng…

Đến đây, ngoài chiêm bái và thưởng ngoạn cảnh chùa, du khách còn có dịp ngắm bức tranh tuyệt đẹp của những đôi cánh trắng hòa vào bầu trời xanh khi rời tổ đi kiếm ăn mỗi sáng, hay thưởng thức bản hòa tấu lạ của tiếng đọc kinh lẫn tiếng chim trong ánh nắng nhập nhoạng. Và cũng không nơi đâu, bức tranh ký họa theo trường phái “không đụng hàng” giữa khung cảnh nhà chùa và chú cò trắng thơ thẩn kiếm mồi đượcc khắc họa cách tỉ mỉ và chân thật nhất.

Chùa Âng

Chùa Âng hay còn được biết với tên chữ chùa Angkorajaborey là một trong những ngôi chùa cổ nhất trong hệ thống chùa Khmer thuộc phường 8, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Chùa Âng rộng hơn 4 hecta tọa lạc cạnh Nhà bảo tàng văn hóa dân tộc Khemer và ẩn mình trong rừng cây cổ thụ của ao Bà Om. Theo truyền thuyết, chùa được xây dựng vào cuối thế kỷ 10. Nhưng qua sổ sách lưu lại, kể từ vị trụ trì đầu tiên, ngôi chùa có trước năm 1715 và được trùng tu năm 1842.

Chùa Âng được xây dựng theo lối kiến trúc độc đáo, với sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật trang trí hình ảnh cảnh trí sắc xảo của văn hoá Khmer và thiết kế lộng lẫy, đầy màu sắc của văn hóa ĂngKor. Thể hiện tại khu chính điện, các gò mái, bên dưới mái nhà, các cột trụ hàng rào quanh chính điện… với các hoa văn, hoạ tiết Thần Rắn Naga, những tượng người đầu chim, rắn thần và chim thần, đầu thần Bayon bốn mặt, tượng chằn Yeak…

Ngoài kiến trúc, chùa Âng cũng ghi dấu với vài trăm cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Tất cả tạo nên một vẻ đẹp thuần khiết cùng không khí trong lành làm say lòng khách thập phương.

Chùa Hang

Chùa Hang, tên chữ Kompông Chrây là ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer nằm bên Quốc lộ 54 thuộc huyện Châu Thành, cách thị xã Trà Vinh 4 km. Chùa được xây dựng từ 1637 với tổng diện tích trên 60 hecta.

Gọi là chùa Hang vì cổng chùa được xây giống như một cái hang, chiều ngang 12m, dài và sâu 12m với một lối đi chính và hai lối đi phụ từ cổng hàng dẫn vào chánh điện cách đó 100m.

Chùa Âng mang đậm dấu ấn Khomer với màu sắc lộng lẫy giống như một cung điện vàng son cùng vật tô-tem (vật tổ) là rắn thần Nara 7 đầu, được chạm trổ và điêu khắc tỉ mỉ.

Ngoài việc thu hút du khách đến tham quan chiêm bái, ngôi chùa này cũng đảm nhiệm phần giáo dục đạo đức và bảo tồn truyền thống văn hóa nghệ thuật cho người dân nơi đây. Như việc dạy trẻ em học hay việc đàn ông Miên đến chùa chuyên tâm cầu nguyện làm sạch linh hồn hay việc các thanh niên Miên đến chùa tu vài năm để thành nhân, cũng là một yếu tố quan trọng trong việc cưới vợ.

Theo tài liệu để lại, nếu không có quả bom rơi vào khuôn viên chùa năm 1986 thì hiện nay, chùa Âng vẫn sẽ là nơi cư ngụ của đàn dơi đông vô số kể như chùa Dơi ở Sóc Trăng (khi bom nổ, dơi giật mình bỏ đi). Dù vậy, bức tranh hàng trăm loại chim trú ngụ trên hàng ngàn cây cổ thụ trong khuôn viên chùa ngày nay cũng thoát tục và thanh bình không kém cho chùa.

Du lịch, GO! - Theo Theo Infonet
Chiều 21-4,  đoàn thám hiểm hang động thuộc Hiệp hội hang động Hoàng gia Anh (BCRA), do ông Howard Limbert làm trưởng đoàn, đã báo cáo với UBND tỉnh Quảng Bình kết quả đợt tìm kiếm và khảo sát hang động ở khu vực phía Tây đường Hồ Chí Minh (nhánh Tây) và cung đường 12A thuộc rừng Phong Nha - Kẻ Bàng, từ ngày 8-3-2010 đến nay.

^ ảnh: Cửa hang Sơn Đoòng.



< Khảo sát hố trên núi đá vôi sâu nhất Việt Nam (ảnh do đoàn khảo sát cung cấp).

Đoàn công bố phát hiện một vực sâu (còn được gọi là hố) trên núi đá vôi, nằm ở khu vực gần hang Sơn Đoòng, có độ sâu 321m, là hố trên núi đá vôi sâu nhất Việt Nam hiện nay; phát hiện hang Hà Lâu dài 331m trong rừng Phong Nha - Kẻ Bàng.

< Một đoạn hang Sơn Đoòng.

Tại hang Sơn Đoòng - được phát hiện năm 2009, là hang lớn nhất thế giới hiện nay - đoàn cũng phát hiện trong hang có nhiều giếng trời, dưới lòng giếng và hai bên thành giếng mọc nhiều cây to và khá rậm rạp.

< Bên trong hang Sơn Đoòng.

Xung quanh hang có nhiều cây cổ thụ mọc, cao từ 30-40m, điều này được coi là rất hiếm gặp. Trong hang còn bắt gặp các bộ xương hóa thạch, bước đầu nghi ngờ là xương của một loài hổ và đoàn đã lấy mẫu về phân tích xác định.

< Cửa hang Én.

Đợt này đoàn cũng tập trung khảo sát hang Én và một số hang động nhỏ khác ở huyện Minh Hóa với tổng cộng chiều dài tới được là 16 km. Thành công lớn của đoàn trong đợt khảo sát này là lập được bản đồ hoàn chỉnh về hang Sơn Đoòng.

Du lịch, GO! - Theo Tuổi trẻ
Du lịch miệt vườn từ lâu đã là một hình thức du lịch hấp dẫn, đặc biệt phát triển ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, dọc theo các nhánh sông Mekong.

Vào những khu vườn cây trái trĩu quả, tự tay hái trái thưởng thức với mức giá “thiệt tình như nông dân”, trò chuyện với những người làm vườn để hiểu thêm về đời sống người dân... là một hình thức du lịch được rất nhiều người ưa chuộng.

Tuy vậy, vài năm gần đây, du lịch miệt vườn dần dần mất vị thế và sự thú vị bởi một thực trạng nghịch lý, đi du lịch vườn nhưng vào vườn không có cây nào có trái. Nhiều điểm du lịch quảng cáo rầm rộ nhưng đến nơi chỉ là một khu vườn già cỗi, sơ sài, rậm rạp, có nơi còn bày biện trái cây.. bằng nhựa để trang trí. Du khách thưởng thức một đĩa trái cây tại vườn cũng là từ nơi khác mang đến với giá cả đắt đỏ.
Vì thế, những người du lịch chuyên nghiệp khi đi du lịch vườn sẽ không chọn những điểm quảng cáo tại các thành phố lớn nữa.

Họ rời bỏ ô tô, thuê xe máy đi len lỏi vào những khu vườn thực thụ ở các thôn, xã.. để tận hưởng khung cảnh thiên nhiên trong lành, những vườn cây trái trĩu đầy, và tìm hiểu đời sống vô cùng thú vị của người dân sống ở vùng Mekong. Và huyện Chợ Lách, Bến Tre chính là một trong những điểm du lịch vườn thứ thiệt gần đây đã được biết đến.

Các thành phố Bến Tre khoảng 45km về hướng Tây, vùng đất Chợ Lách hiền hòa nằm giữa hai con sông Hàm Luông và Cổ Chiên là một vùng cây trái bạt ngàn, ngon ngọt, người dân hiền hòa thân thiện, cũng như đời sống sông nước hữu tình. Ra khỏi chợ ở khu vực trung tâm thị trấn Chợ Lách chừng 1 - 2 km, ở đâu bạn cũng có thể thấy những vườn măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, cam, bưởi, nhãn lồng.. rộng mênh mông.

Tháng 4 và 5 AL chính là mùa cây trái, bạn sẽ phải reo lên khi nhìn thấy những cây sầu riêng chi chít quả, có khi một nhánh mang cả chục trái, cả cây có khi mang trên dưới 100 trái, nhìn mà căng cả mắt. Chôm chôm vào mùa thì chín đỏ cả một vùng. Người hái, người thu mua, người ghé lại thăm trò chuyện tíu tít, vui nhộn, bỏ quên hết mệt nhọc của cuộc sống đời thường sau lưng.

Ổi không hạt cũng khá chịu đất này nên có trái quanh năm. Nhãn vào mùa thì trĩu trên cành, mùi thơm lan cả một vùng. Người đến chơi thích cây trái gì có thể dừng lại, ghé vào vườn hỏi mua. Người bán trẩy trên cành xuống, hoặc người mua tự hái, ra áng chừng cân nặng rồi tính tiền, không ai chi li thiệt hơn làm gì vì vườn đang sai quả. Cứ thế, vài chục ngàn đồng, bạn có thể ăn no bụng vị ngọt ngon của trái cây miệt vườn tươi roi rói.

Người dân Chợ Lách, cũng như các miền khác của đồng bằng sông Cửu Long, rất chân chất hiền lành. Bạn mua trái cây, cũng có thể ghé lại nhà nông dân để chơi, uống chén trà đậm, nhờ đâm dùm chén muối ớt để ăn với ổi, bưởi hay cam. Rồi nhờ luôn mắc chiếc võng trong vườn đánh giấc trưa. Cũng có thể gửi thêm chút tiền mọn nhờ họ đi chợ mua thêm chút đồ ăn cho bạn ăn cùng bữa tối.

Buổi tối có thể chọn một nhà nghỉ bình dân với giá bèo, 150 - 200.000 đồng/đêm, hỏi người dân ở đâu thì ai họ cũng chỉ, đêm nằm nghe tiếng côn trùng rả rích, tiếng cải lương vọng ra từ radio của nhà nào đó rất xa mà vẫn nghe văng vẳng, rồi thiu thiu chìm vào giấc ngủ, mới hay cuộc sống có những phút thanh nhàn dễ chịu vô cùng.

Du lịch miệt vườn trước tiên không được đánh mất bản chất của “miệt vườn” thì mới được gọi là “thứ thiệt” và thu hút du khách. Huyện Chợ Lách không phải là một điểm du lịch rầm rộ, nhưng gần đây rất nhiều người yêu du lịch miệt vườn ghé đến, có thể là một gợi ý điển hình cho loại hình du lịch này.

Du lịch, GO! - Theo TTO

Saturday, 21 April 2012

“Chim quyên ăn trái nhãn lồng. Thia thia quen chậu vợ chồng quen hơi…”. Câu hát ru của má ngày xưa đã đưa tuổi thơ tôi vào giấc ngủ nồng say, và cho đến ngày hôm nay như vẫn còn vang vọng đâu đây mỗi khi tôi được nhìn thấy và thưởng thức món ăn dân dã, đong đầy ký ức, đó là: đọt nhãn lồng.

Đối với những người sinh ra và lớn lên ở đồng bằng sông Cửu Long chắc hẳn không ai không biết đến hương vị ngọt thơm, thanh mát của đọt nhãn lồng (còn có tên gọi là: lạc tiên, lồng đèn, chùm bao…). Đây là loại dây leo thường mọc nơi các bờ bụi, bãi hoang. Thân cây mềm, có nhiều lông, lá hình trái tim, mép lá có lông mịn, nơi nách lá có tua cuốn hình lò xo bám vào các thân cây khác để phát triển.

Hoa ra vào tháng 4 – 5, quả vào tháng 5 -7. Quả nhãn lồng có hình tròn cỡ đầu ngón tay cái, chín có màu vàng cam (đến đỏ nhạt), hạt màu đen phủ bên ngoài một lớp cơm trắng nhờn (giống như hột é ngâm nước), vị chua ngọt, trẻ con rất ưa thích.

< Đọt nhãn lồng luộc.

Nhắc đến đọt nhãn lồng, tôi còn nhớ lúc còn nhỏ ở dưới quê, đôi khi má sai tôi ra sau vườn hái đọt nhãn lồng về chế biến món ăn. Tôi vô cùng thích thú vì sẵn dịp đó được hái những trái nhãn lồng chín để ăn. Nhìn những trái nhãn lồng chín vàng được bao phủ bên ngoài bởi màng lưới trắng xinh, nõn nà, tôi vội giơ tay hái và bóc nhẹ lớp vỏ mỏng mềm bên ngoài đưa lên miệng nhai ngon lành. Vị chua chua, ngọt ngọt và mùi thơm thoảng đặc trưng của trái nhãn lồng thật hấp dẫn!

Theo y học dân gian, lá, đọt và dây nhãn lồng là thuốc an thần, chữa trị chứng mất ngủ, và  khi phối hợp với những vị thuốc khác chữa trị được các bệnh như: kiết lỵ, thần kinh suy nhược, viêm da, mụn mũ, ghẽ ngứa.… Ngoài là vị thuốc,  đọt nhãn lồng còn là thức ăn dân dã được các bà nội trợ miệt vườn ưa chuộng để chế biến món ăn ngon, nhưng ấn tượng nhất trong tôi vẫn là: đọt nhãn lồng luộc và nấu canh tép.

Chế biến món đọt nhãn lồng luộc rất gọn nhẹ, nhưng để món luộc hấp dẫn là cả một nghệ thuật. Ta cứ tưởng rằng đọt nhãn lồng khi hái vào, lựa những phần non rửa sạch, rồi cho vào nồi nước luộc là xong. Nhưng để đọt nhãn lồng luộc có màu xanh bắt mắt, ăn không dai cần có một bí quyết nhỏ khác là: nước luộc phải có ít muối và nấu thật sôi, sau đó mới thả đọt nhãn lồng vào. Đợi đọt nhãn lồng chín (khoảng 10 phút), vớt ra ngay cho vào thau nước lạnh. Cuối cùng, đổ ra rổ cho ráo, và xếp ra dĩa. Món này chấm với nước cá chiên hay thịt kho rất ngon.

< Đọt nhãn lồng nấu canh tép.

Riêng món canh đọt nhãn lồng nấu tép bạc đất thật tuyệt vời và trong ký ức tôi đến nay vẫn còn nhớ rõ vị ngọt và mùi thơm của nó lẩn khuất đâu đây. Trước hết, tép bạc đất má mua ở chợ lựa tép còn nhảy tanh tách, đem về cắt đầu đuôi, lột vỏ rửa sạch, để ráo. Tiếp đến, má lặt những đọt non, lá non nhãn lồng rửa sạch, để ra rổ cho ráo, và bắc nồi nước lên bếp nấu sôi, bỏ tép đã làm sạch vào. Nêm nếm gia vị (bột nêm + muối) cho vừa khẩu vị. Chờ nước sôi bùng lên, thả đọt nhãn lồng vào (khoảng 10 phút). Sau cùng, má dùng vá dìm những phần đọt nhãn lồng ngập trong nước sôi. Khi thấy đọt nhãn lồng chín, má nêm nếm gia vị lần cuối và nhắc xuống ngay. Thuận tay, má cho vào một ít hành lá xắt nhuyễn, rót một dĩa nước mắm hòn nguyên chất, trong có vàì trái ớt hiểm là xong.

Thật đầm ấm và hạnh phúc khi cả nhà quây quần bên mâm cơm đạm bạc đã được dọn lên, trong đó có tô canh đọt nhãn lồng cùng dĩa thịt heo kho. Cầm đũa gắp một miếng thịt kho cho vào miệng nhai chậm rãi. Chan một muỗng canh cùng đọt nhãn lồng vào chén đưa lên miệng “lùa một hơi”.Vị ngọt của nước canh hòa quyện vị nhân nhẩn và mùi thơm đặc trưng của đọt nhãn lồng như đánh thức mọi giác quan khiến lòng tôi bâng khuâng luyến nhớ về vùng quê nghèo thân thương.

Du lịch, GO! - Theo báo Laodong
Bài 5: Cửa biển Mỹ Bình

Huyện Phú Tân có bờ biển dài 27km, chiếm 10,6% chiều dài bờ biển toàn tỉnh, chạy dài từ cửa Mỹ Bình đến cửa sông Bảy Háp. Vùng biển của huyện Phú Tân (vịnh Thái Lan) thuộc miền thềm lục địa nước nong, có độ sâu trung bình 46m, chỗ sâu nhất là 83m.

< Cửa biển Mỹ Bình với hai bên là rừng phòng hộ chắn sóng.

Cửa biển Mỹ Bình là một trong hai cửa biển lớn của huyện Phú Tân, nhưng so với cửa biển Cái Đôi Vàm, trung tâm huyện lỵ Phú Tân, Mỹ Bình vẫn còn kém xa về độ phát triển kinh tế - xã hội. Sau bao năm phù sa bồi lắng, lòng sông bị thu hẹp, nghề khai thác biển nơi đây kém phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.

< Khu dân cư cửa biển Mỹ Bình (nhìn từ biển vào) đang dần hình thành.

Thế nhưng, đây lại là vùng chiến lược phát triển kinh tế biển của tỉnh Cà Mau. Theo tuyến hành lang này, từ thị trấn Cái Đôi Vàm là đô thị ven biển Tây đến cửa biển Mỹ Bình, thuộc ấp Cái Nước, xã Phú Tân, sẽ hình thành nên các cụm tuyến dân cư, liên kết với các đô thị quan trọng khác dọc theo tuyến đường đê biển Tây như: thị trấn Sông Đốc, khu dân cư cửa Đá Bạc, cửa Ba Tĩnh, cửa Khánh Hội... Để tạo đà cho huyện Phú Tân phát triển cả kinh tế nội địa, kinh tế biển và có điều kiện liên kết với các địa phương khác trong tỉnh.

Vị thế và tầm quan trọng của cửa biển Mỹ Bình được huyện Phú Tân xem là trọng điểm, chỉ sau cửa Cái Đôi Vàm. Vì vậy, trong nhiều năm qua, cửa Mỹ Bình đã được đầu tư nạo vét, tạo thuận lợi cho nghề khai thác biển phát triển. Cụm tuyến dân cư đã được quy hoạch ổn định. Diện mạo mới đời sống cư dân đang hình thành nên những bước đi ban đầu.

< Ốc len - đặc sản của cửa biển Mỹ Bình.

Theo nhận xét của ông Dương Văn Nhanh, chủ doanh nghiệp tư nhân Năm Nhanh chuyên nghề thu mua thủy hải sản, mỗi ngày sản lượng mua vào của doanh nghiệp lên đến gần chục tấn tôm-cua-cá-mực... Lượng ghe biển về đây mỗi lúc một nhiều. Doanh nghiệp của ông đang là chủ đầu tư cho hơn 60 chiếc ghe khai thác thủy sản, với số vốn đầu tư cho mỗi chuyến biển, ông được chủ ghe ưu tiên bán sản phẩm trừ vào vốn vay. Cứ như thế, doanh nghiệp hỗ trợ ghe khai thác, thu mua sản phẩm.

Chủ ghe có vốn làm ăn và có nơi tiêu thụ sản phẩm ổn định, đang là một cách làm ăn hiệu quả của ngư dân cửa biển Mỹ Bình. Ông Năm Nhanh còn kiêm luôn việc lo thủ tục đang ký, đăng kiểm. Kể cả việc đóng bảo hiểm thuyền viên cho các chủ ghe. Vì vậy, ngư dân nơi đây rất yên tâm sản xuất làm ăn.

< Doanh nghiệp tư nhân Năm Nhanh làm ăn rất hiệu quả ở cửa biển Mỹ Bình.

Mỹ Bình còn là cửa biển đẹp, rừng ngập mặn ven biển nơi đây có vai trò  phòng hộ và bảo vệ môi trường rất quan trọng. Nơi sinh sản của các loài thủy sản, giúp cho nuôi thủy sản và bảo vệ nguồn lợi thủy sản bền vững. Vùng này cũng có khả năng nuôi một số loài thủy sản như: nghêu, sò, ốc len có giá trị kinh tế cao.

Mỹ Bình, từng là trọng điểm của một thời chiến tranh đánh phá ác liệt, nằm trong tam giác của khu Hải Yến - Bình Hưng, từng chịu nhiều mất mát, đau thương. Hiện nay, với những gì huyện Phú Tân đang đầu tư cho cụm kinh tế biển này, sẽ không xa lắm một khu dân cư sầm uất mọc lên, tạo cho Mỹ Bình một sức sống mới.

Bài 6: Cửa Rạch Chèo

< Cửa biển Rạch Chèo.

Nhắc tới dòng sông Bảy Háp lịch sử, người ta lại nghĩ đến những địa danh quen thuộc như Gò Công, Rạch Chèo, Đất Mới... Cửa Rạch Chèo, đầu nguồn sông Bảy Háp - một nhánh sông nhỏ đổ ra biển Tây - là một địa danh được ghi vào lịch sử với thắng lợi của bộ đội ta tại đồn Rạch Chèo năm 1973.

< Xóm biển Rạch Chèo.

Cửa biển Rạch Chèo, xã Rạch Chèo, huyện Phú Tân, nằm trên cạnh tam giác của vùng bãi bồi Mũi Cà Mau (sông Bảy Háp) thuộc biển Tây, với bên kia sông là xã Đất Mới, Lâm Hải (Năm Căn) và từ đây cũng có thể đi thẳng về Ngọc Hiển. Chợ Rạch Chèo sầm uất với những ngôi nhà san sát, khang trang nằm ven sông Bảy Háp. Bên kia sông là xóm nhà sàn của cư dân xã Đất Mới huyện Năm Căn, càng tô thêm vẻ tấp nập cho vùng cửa biển.

< Mô hình nuôi ba ba ở cửa biển Rạch Chèo.

Tháng 11.1973, bộ đội địa phương và du kích huyện Cái Nước đã đánh đồn Rạch Chèo tại cửa sông Bảy Háp, tiêu diệt và bắt sống gần 50 tên địch, thu nhiều vũ khí và chiến lợi phẩm, giải phóng dòng sông lịch sử và góp phần quyết định chiến thắng ngày 30.4.1975.

Trên nền đồn giặc cũ, nay trở thành bưu điện - trung tâm thông tin - cầu nối xã Rạch Chèo với các địa phương khác.


< Bưu điện Rạch Chèo.

Xã Rạch Chèo, (được tách ra từ Tân Hưng Tây, ngày 1.1.2005) với diện tích trên 4.800ha, có 5 ấp, kinh tế chính vẫn là nuôi trồng thủy sản (chủ yếu là tôm) nhưng khai thác biển vẫn là một nét sinh hoạt của người dân địa phương. Toàn xã chỉ có gần 50 phương tiện khai thác, công suất lớn nhất là 30 CV và chủ yếu đánh bắt gần bờ. Còn lại là một bộ phận khá đông những người không phương tiện khai thác, đi bắt ốc, mò sò trên những bãi bồi ven biển. Có thể nói, so với các cửa biển nhỏ như Hương Mai, Gò Công... thì cửa Rạch Chèo có vẻ còn “út” hơn.

Tuy nhiên, vùng biển nào cũng mang những nét đặc trưng riêng. Ở cửa Rạch Chèo có hình thức đánh bắt truyền thống: nhiều hàng đáy được Nhà nước đầu tư cho dân thuê làm phương tiện kiếm sống, mỗi miệng đáy có 3 người, thay phiên nhau khai thác. Đây có thể xem là giải pháp tạo việc làm cho cư dân vùng biển. Hằng ngày, có những chiếc vỏ máy neo đậu song song theo những trụ hàng đáy giữa con nước chảy siết, tạo nên vẻ đẹp riêng cho cửa biển Rạch Chèo.

< Đánh bắt thủy sản trên cửa biển Rạch Chèo.

Cửa Rạch Chèo nằm ở địa thế thuận lợi (ngã ba đường) nhưng thực tế kinh tế biển cũng như các dịch vụ nghề biển ở đây chưa có dấu hiệu khả quan.

Ông Cao Văn Chiến, một người dân địa phương, cho biết: “Lúc trước, cửa này rất rộng, có thể giăng tới 17 miệng đáy, gần đây, do cư dân đông đúc đã lấn mé, ngăn dòng chảy, cửa biển cạn dần, tiềm năng biển giảm”. Đồng thời, theo ông Nguyễn Minh Đạo, Chủ tịch UBND xã Rạch Chèo: “Hiện tại, kinh tế biển ở Rạch Chèo chưa có dấu hiệu đầu tư nào (ngoài việc hỗ trợ tiền dầu)”. Hy vọng, với chiến lược biển ở Cà Mau, cửa Rạch Chèo sẽ phát triển tương xứng với tiềm năng và vị thế của mình”.

Còn tiếp

A1 - Những cửa biển ở Cà Mau
A2 - Những cửa biển ở Cà Mau
A3 - Những cửa biển ở Cà Mau
A4 - Những cửa biển ở Cà Mau

Du lịch, GO! - Theo báo Ảnh Đất Mũi và nhiều nguồn ảnh khác

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống